Hoa hậu Hoàn Vũ Việt Nam 2017 H'hen Niê đọc sách tranh Sóc con đi học
Chào mừng quý vị đến với website của
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Cô gái trên tàu -paula-hawkins

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Trần Thị Hạnh
Ngày gửi: 17h:29' 12-07-2025
Dung lượng: 1.2 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Trần Thị Hạnh
Ngày gửi: 17h:29' 12-07-2025
Dung lượng: 1.2 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
RACHEL
• • •
THỨ SÁU, MÙNG 5 THÁNG BẢY 2013
BUỔI SÁNG
CÓ MỘT ĐỐNG QUẦN ÁO nằm la liệt dưới ray tàu. Một chiếc áo sơ mi xanh nhạt, có
lẽ vậy, lẫn lộn với thứ gì đó màu trắng đục. Đó có thể là rác rưởi, một phần bị cuốn
ra từ bãi bụi rậm gần bờ sông. Nó cũng có thể bị những người thợ làm việc ở toa tàu
này bỏ lại. Hoặc nó là một thứ gì đó khác. Mẹ từng nói rằng tôi có một trí tưởng
tượng theo hướng tích cực; Tom cũng nói vậy. Tôi không dừng được, mỗi khi tôi
nhìn thấy một đống phế liệu bỏ đi, một chiếc áo bẩn thỉu hay một chiếc giày, tất cả
những gì tôi nghĩ đến là chiếc giày còn lại, và đôi bàn chân đi vừa đôi giày đó.
Con tàu xóc, kéo lê trên ray và rít lên theo từng nhịp chuyển động, đống quần áo
biến mất khỏi tầm mắt tôi. Và chúng tôi đang tiến vào Luân Đôn, với tốc độ nhanh
chóng. Ai đó ngồi sau tôi thở dài một cách khó chịu; chuyến tàu chậm chạp lúc 8:04
từ Ashbury đến Euston có thể kiểm tra độ nhẫn nại của những người đi tàu lâu
năm. Chuyến đi đáng ra mất 54 phút, nhưng nó hiếm khi nhanh đến vậy: toa tàu
này đã cũ nát, hư hỏng, đầy những hỏng hóc về tín hiệu và cần sửa chữa liên tục.
Con tàu di chuyển chậm qua các đài phun nước, cầu và những ngôi nhà của tầng
lớp trung lưu cũ, đối lưng vuông vức với đường ray.
Tôi tựa đầu vào khung cửa sổ, nhìn những ngôi nhà trôi qua như một đoạn phim
ngắn. Tôi nhìn nó theo cách mà người khác không thể, kể cả người chủ của những
ngôi nhà ấy, từ hướng này. Hai lần trong ngày, tôi nhìn vào cuộc sống của người
khác, trong giây lát ngắn ngủi. Có gì đó rất thoải mái khi nhìn cảnh người lạ sống an
toàn trong ngôi nhà của họ.
Điện thoại của ai đó kêu lên, sự thích thú ngẫu nhiên cùng một bài hát lạc quan.
Họ chậm rãi trả lời điện thoại, nó cứ reng reng xung quanh tôi. Tôi có thể cảm nhận
được những người bạn đồng hành của tôi lạo xạo thay đổi tư thế, sột soạt đọc báo
và nghịch máy tính. Con tàu lắc lư, dao động qua chỗ rẽ, chậm rãi tiến gần tới đèn
đỏ. Tôi cố không ngước lên nhìn, cố đọc tờ báo miễn phí được tặng trên đường ra
bến, nhưng những con chữ cứ mờ nhạt trong mắt tôi, không có gì khiến tôi hứng
thú. Trong đầu tôi vẫn còn hình ảnh đống quần áo nằm trên toa, bị vứt bỏ.
BUỔI TỐI
Từng thìa thuốc bổ trộn lẫn với rượu sâm panh xì xèo trên môi khi tôi đưa lên hấp
từng ngụm nhỏ. Nó thơm, hơi lạnh, có vị như kì nghỉ đầu tiên của tôi cùng Tom,
đến khu làng chài ở Basque năm 2005. Vào buổi sáng, chúng tôi sẽ bơi khoảng nửa
dặm ra hòn đảo nhỏ ngoài vịnh, ở một bãi biển kín; buổi chiều, chúng tôi sẽ ngồi
trong quán ba uống những thứ rượu mạnh, xem những trận đá bóng bãi biển trên
nền cát nông.
Tôi nhấp thêm một thìa, và một thìa nữa; cái can đã vơi đi một nửa nhưng vẫn
đủ, tôi còn có ba can nữa trong túi nhựa nằm dưới chân. Hôm nay là thứ sáu, nên
cũng không cần cảm thấy quá tội lỗi về việc uống trên tàu. Chyện vui bây giờ mới
bắt đầu.
Nó sẽ là một cuối tuần thật vui vẻ, đó là những gì họ nói với chúng tôi. Ánh mặt
trời hoà quyện với bầu trời trong vắt không một gợn mây. Ngày xưa, chúng tôi có
thể sẽ lái xe tới rừng Corly để cắm trại, dành cả buổi chiều nằm dài trên cái chăn
dưới ánh nắng lốm đốm, cùng nhau uống rượu. Chúng tôi xó thể sẽ nướng thịt cừu,
hoặc đến vườn hoa hồng và ngồi trong vườn, tận hưởng ánh ban mai và cồn tới tận
cều muộn, rồi cùng nhau về nhà, tay trong tay, ngủ gật trên ghế sô pha.
Vẫn vậy, ánh mặt trời, bầu trời trong veo, nhưng không ai cùng hưởng thụ, chả
có gì để làm. Cuộc sống như vậy, cái cách mà tôi đang sống, khó khăn hơn rất nhiều
vào mùa hè, khi có rất nhiều ánh nắng ban ngày, và cực ít bóng tối, khi mọi người
cùng ra ngoài, vui vẻ và náo nhiệt. Nó làm bạn kiệt sức, và khiến bản thân cảm thấy
tồi tệ vì không tham gia.
Những ngày cuối tuần kéo dài lê thê, còn bốn mươi tám giờ đồng hồ trống rỗng
nữa. Tôi đưa cái can lên miệng, nhưng không còn một giọt nào nữa.
THỨ HAI, NGÀY 8 THÁNG BẢY 2013
BUỔI SÁNG
Thật nhẹ nhõm khi lại được trở lại 8:04. Không phải là tôi mong chờ đến Luân Đôn
để bắt đầu tuần làm việc - thực ra tôi chẳng muốn đến Luân Đôn chút nào. Tôi chỉ
muốn tựa lưng vào chỗ ngồi bằng nhung mềm, trũng xuống, để cảm nhận cái ấm áp
của ánh nắng mặt trời chiếu qua cửa sổ, cảm nhận sự rung chuyển khi lên xuống,
lúc xuống lên và nhịp điệu của bánh xe lăn tròn trên ray. Tôi thà ngồi đây, nhìn ra
những ngôi nhà đằng xa, hơn là bất cứ nơi đâu.
Có một lỗi tín hiệu ở đoạn đường này, khoảng nửa quãng trong suốt chuyến đi
của tôi. Tôi nghĩ là nó bị lỗi, bởi vì nó luôn luôn đỏ; hầu hết chúng tôi phải dừng tại
đây, có lúc thì một vài giây, cũng có lúc khoảng vài phút. Nếu tôi ngồi ở toa D, mà
thường thì tôi ngồi ở đấy, và con tàu dừng ở cột tín hiệu này, thường thì là nó, tôi
có một điểm nhìn tuyệt vời ra ngôi nhà yêu thích của mình: số mười lăm.
Số mười lăm cũng giống như hầu hết những ngôi nhà trên đoạn đường này: một
ngôi nhà đôi, cao hai tầng, nhìn ra một mảnh vườn nhỏ, được chăm nom cẩm thận
với hàng rào cao hai mươi phân, qua một quãng là khu đất hoang. Tôi nằm lòng
ngôi nhà này. Tôi nhớ từng viên gạch, từng màu sắc trên chiếc rèm cửa trong phòng
ngủ tầng hai ( màu be với sơn xanh đậm). Tôi biết rằng sơn đã bị tróc trên khung
cửa sổ và có bốn miếng ngói bị thiếu trên phía bên phải của mái nhà.
Tôi biết rằng vào những buổi tối mừa hè ấm áp, người chủ của ngôi nhà, Jason va
Jess, thỉnh thoảng hay trèo lên bậc thềm to trước khung cửa trên mái nhà phòng
bếp. Họ là một cặp trời sinh. Anh ta có mái tóc đen, thân hình vạm vỡ, khoẻ mạnh,
tốt bụng. Anh ta còn có nụ cười rất tuyệt. Cô ấy thuộc kiểu nhỏ người, xinh đẹp, da
trắng với mái tóc vàng ruộm cắt ngắn. Cô có cấu trúc xương má nhọn, lốm đốm tàn
nhang và một khuôn hàm đầy đặn.
Trong khi chúng tôi đang mắc kẹt tại các tín hiệu đèn đỏ, tôi tìm họ. Jess thường
ra ngoài vào buổi sáng, đặc biệt là vào mùa hè, đi uống cà phê. Đôi khi, khi tôi nhìn
thấy cô ấy ở đó, tôi cảm thấy như cô ấy cũng đang nhìn thấy mình, như thể cô nhìn
thẳng vào tôi, và tôi muốn vẫy tay. Tôi có thể tự ý thức điều đó. Tôi không thấy
Jason nhiều, anh ấy đi làm nhiều. Nhưng ngay cả khi họ không có ở đó, tôi vẫn suy
nghĩ về những gì họ có thể đang làm. Có lẽ sáng nay họ có một ngày nghỉ và cô ấy
đang nằm trên giường trong khi anh làm bữa sáng, hoặc có thể họ đi tập thể dục với
nhau, bởi vì đó là loại điều họ thường làm. (Tom và tôi thường đi bộ với nhau vào
ngày chủ nhật, tôi đi nhanh hơn một chút so với tốc độ bình thường, còn anh ấy đi
khoảng một nửa tốc độ, nên chúng tôi có thể chạy song song nhau.) Có lẽ Jess đang
trên lầu, sơn tường, hoặc có thể họ đang trong phòng tắm cùng nhau, hai tay cô ấy
ép vào tường, tay anh đặt trên eo cô.
BUỔI TỐI
Đi chậm rãi về phía cửa sổ, tôi tựa lưng vào ghế, mở một trong những chai Chenin
Blanc nhỏ tôi mua từ Whistlestop khi ở Euston. Nó không lạnh, nhưng chắc cũng
thơm. Tôi đổ một ít vào cốc nhựa, vít lại nút và đặt các chai vào trong túi xách.
Uống rượu trên tàu vào ngày thứ hai thật khó chấp nhận được, trừ khi uống rượu
với công ty, mà tôi thì không.
Có nhiều gương mặt quen thuộc trên chuyến tàu, những người tôi thấy mỗi
tuần, đi tới đi lui. Tôi nhận ra họ và họ có thể nhận ra tôi. Tôi không biết liệu họ
nhìn thấy tôi, nhận ra con người thật của tôi.
Đó là một buổi tối đẹp, ấm áp, mặt trời lặn chậm rãi, bóng tối kéo dài còn ánh
sáng chỉ mới bắt đầu đánh bóng những cây đề vàng. Các tàu lượn qua nơi ở của
Jason và Jess, khi ánh sáng mặt trời đã tối mờ. Đôi khi, tuy không thường xuyên, tôi
có thể nhìn thấy họ từ bên này của đoàn tàu. Nếu không có chuyến tàu nào đi theo
hướng ngược lại, và nếu chúng tôi đi vừa đủ chậm, đôi khi tôi còn bắt gặp họ liếc
qua mình trên sân thượng. Nếu không - như ngày hôm nay - Tôi có thể tưởng
tượng ra họ. Jess sẽ được ngồi trên bàn nhìn ra sân thượng, với một ly rượu vang
trên tay, Jason đứng đằng sau cô, đặt tay lên vai cô. Tôi có thể tưởng tượng được
cảm giác của bàn tay, trọng lượng của chúng, mang đến cảm giác trấn an và bảo vệ.
Đôi khi tôi thấy bản thân mình đang cố gắng nhớ lại lần cuối cùng tôi chạm vào
một ai đó, một cái chạm ý nghĩa, chỉ cần một cái ôm hay một cái bắt tay khiến con
tim tôi loạn nhịp.
THỨ BA, NGÀY 9 THÁNG BẢY 2013
BUỔI SÁNG
Đống quần áo từ tuần trước vẫn còn đó, có vẻ bẩn hơn vài ngày trước. Tôi đọc ở đâu
đó rằng một đoàn tàu có thể thổi bay bộ quần áo trên người nạn nhân khi nó đâm.
Điều đó không phải bất thường, những cái chết do xe lửa. Hai đến ba trăm vụ trong
một năm, vậy là có ít nhất một người chỉ trong vài ngày. Tôi không chắc có bao
nhiêu người trong đó là tình cờ. Tôi xem xét cẩn thận, khi con tàu từ từ lăn qua,
xem có vệt máu nào trên quần áo không, nhưng tôi không thể nhìn thấy bất kỳ vệt
nào.
Đoàn tàu dừng tại ở các tín hiệu như bình thường. Tôi nhìn thấy Jess đứng trên
hiên phía trước cửa ra vào. Cô mặc một chiếc váy in sáng màu, đi chân đất. Cô nhìn
qua vai, vào bên trong nhà; có thể đang nói chuyện với Jason, trong khi anh đang
làm bữa sáng. Tôi giữ ánh nhìn cố định vào Jess, về ngôi nhà của cô, khi con tàu bắt
đầu nhích về phía trước. Tôi không muốn nhìn những ngôi nhà khác; đặc biệt là
ngôi nhà cách đó 4 cánh cửa, cái từng là của tôi.
Tôi sống ở số hai mươi ba đường Blenheim trong năm năm, sung sướng, hạnh
phúc tuy nhiên cũng khá tồi tệ. Tôi không thể nhìn vào nó lúc này. Đó là căn nhà
đầu tiên của tôi. Không phải nhà cha mẹ tôi, không phải là một ngôi nhà trọ với các
sinh viên khác, ngôi nhà đầu tiên của tôi. Tôi không chịu được khi nhìn vào nó.
Vâng, tôi có thể, tôi nhìn, tôi muốn, tôi không muốn, tôi cố gắng không nhìn. Mỗi
ngày tôi nhắc nhở bản thân mình không nhìn, và mỗi ngày tôi vẫn nhìn. Tôi không
thể giúp bản thân mình, mặc dù không có gì tôi muốn nhìn thấy ở đó, dù cho bất cứ
điều gì tôi nhìn thấy sẽ làm tôi tổn thương. Mặc dù tôi nhớ rất rõ cảm giác khi tôi
nhìn lên và nhận thấy cái kem bông trong phòng ngủ trên lầu đã biến mất, thay thế
bằng một cái gì đó mềm mại màu hồng; mặc dù tôi vẫn còn nhớ những nỗi đau mà
tôi cảm thấy khi tôi nhìn thấy Anna tưới bụi hoa hồng gần hàng rào, chiếc áo sơ mi
của cô kéo dài sệ dưới bụng của cô, và tôi cắn môi tới khi nó chảy máu.
Tôi nhắm chặt mắt lại và đếm đến mười, mười lăm, hai mươi. Được rồi, nó qua
rồi, không có gì để nhìn nữa. Chúng tôi đi qua trạm Witney, đoàn tàu đang tăng tốc
nhanh chóng khỏi vùng ngoại ô Bắc Luân Đôn bẩn thỉu, dơ dáy. Những ngôi nhà
thềm cao đã được thay thế bằng nhiều con cầu nối tiếp nhau và những toà nhà
trống trải với cửa sổ vỡ vụn. Càng đến gần Euston, tôi càng cảm thấy lo lắng, áp lực
đè nặng, ngày hôm nay sẽ diễn ra như thế nào? Có một toà nhà bọc bê tông cáu bẩn
phía tay phải đường ray cách Euston khoảng 500 mét. Ai đó đã sơn lên tường dòng
chữ: CUỘC SỐNG KHÔNG PHẢI LÀ MỘT ĐOẠN VĂN. Tôi lại nghĩ đến đống quần áo
dưới chân đường ray và cảm thấy cổ họng nghẹn ứ. Cuộc sống không phải một
đoạn văn và cái chết không phải dấu ngoặc kết.
BUỔI TỐI
Đoàn tàu tôi bắt vào buổi chiều, số 17.56, chậm hơn một chút so với cái buổi sáng mất một tiếng và một phút, đúng bảy phút lâu hơn chuyến tàu buổi sáng mặc dù
không phải dừng ở bất kì trạm nào. Tôi không quan tâm lắm, vì tôi đã không phải
vội vã đến Luân Đôn vào buổi sáng, thì chẳng có lí gì tôi lại muốn về Ashbury vào
buổi chiều. Không chỉ bởi vì nó là Ashbury, mặc dù nơi đây cũng đủ tệ rồi, nó là một
thành phố mới những năm 1960, lan rộng ra như cục bướu đến trái tim của
Buckinghamshire. Không tốt hơn cũng chẳng tệ hơn hàng tá những thành phố
khác, một khu trung tâm với những quán cà phê, bốt điện thoại và các chi nhánh
của các công ti thể thao JD, bao quanh bởi một ban nhạc từ ngoại ô và các thể loại
rạp chiếu phim và dịch vụ Tesco du nhập từ bên ngoài thành phố. Tôi sống trong
khu hiện đại nhất, mới nhất, nằm ở trung tâm thương mại, đang dần chuyển ra
phía ngoại tỉnh, nhưng nó không phải nhà tôi. Nhà tôi là một căn nhà đôi nằm trên
đoạn đường mà đoàn tàu đi qua, cái mà tôi từng sở hữu. Ở Ashbury, tôi không phải
là chủ nhà, không phải là người ở nhờ - tôi đi thuê trọ, ở chung phòng ngủ nhỏ, cũ
kĩ cùng với Cathy, cô nàng hiền lành, vô hại, đương nhiên là rất yêu kiều, đảm đang,
dễ chiếm được cảm tình.
Cathy và tôi từng là bạn đại học. Một phần là bạn bè, thực sự, chúng tôi chưa bao
giờ thân thiết đến mức đấy. Cô sống cùng khu với tôi năm đầu tiên và chúng tôi
tham gia cùng môt khóa học, vì vậy chúng tôi gần như đồng minh trong vài tuần
học đầu khó khăn, trước khi chúng tôi gặp những người thực sự có nhiều điểm
chung. Chúng tôi hiếm khi gặp nhau sau năm đầu tiên và hầu như không lần nào
sau khi ra trường, trừ ở những đám cưới của bạn bè. Nhưng trong giờ khắc khó
khăn, cô đã để tôi ở chung phòng và điều đó thực sự có ý nghĩa. Tôi đã chắc chắn
rằng nó chỉ tạm thời trong một vài tháng, nhiều nhất là sáu tháng, và tôi không biết
phải làm gì khác. Tôi sẽ không bao giờ có thể sống một mình, tôi đã từng chuyển từ
căn hộ của bố mẹ đến ở chung nhà với người xa lạ, rồi đến Tom, tôi thấy ý tưởng
của Cathy thật tuyệt vời, vì vậy tôi nói có. Và thời điểm đó là gần hai năm trước.
Nó không khủng khiếp. Cathy là một người tốt bụng, theo một cách mạnh mẽ.
Cô khiến bạn nhận thấy giá trị của cô. Tốt bụng là điều hiển nhiên, đó là phẩm chất
của cô, và cô ấy muốn nó được thừa nhận, thường xuyên, hầu như hàng ngày, điều
đó có thể khiến tôi mệt mỏi. Nhưng nó không đến nỗi tệ lắm, tôi có thể nghĩ về
những đặc điểm tồi tệ hơn ở một người chung phòng. Không, không phải do Cathy,
cũng chẳng phải Ashbury khiến tôi phiền lòng (tôi vẫn cảm thấy chưa quen với tình
huống này, mặc dù đã được hai năm). Đó là sự mất kiểm soát. Ngôi nhà của Cathy
luôn khiến tôi thấy như một vị khách dù họ tiếp đón rất nhiệt tình. Tôi có cảm giác
đó khi ở trong bếp, nơi chúng tôi phải tiết kiệm từng khoảng không qian nhỏ bé để
ăn tối. Tôi có cảm giác đó khi tựa vào chiếc ghế sô pha, nơi tôi có thể bao trọn căn
phòng. Nơi duy nhất khiến tôi có cảm giác như nhà mình là căn phòng ngủ nhỏ, chỉ
nhét vừa một chiếc giường đôi và một cái bàn, chỉ cách nhau một chút để lấy lối đi.
Đủ tiện nghi, nhưng nó không phải nơi bạn muốn ở, vì thế tôi luôn nấn ná ở phòng
khách hoặc ở bàn ăn, mệt mỏi và không có tí năng lượng nào. Tôi mất kiểm soát
mọi thứ, ngay cả cái nơi trong xuất hiện trong đầu.
THỨ TƯ, NGÀY 10 THÁNG BẢY 2013
BUỔI SÁNG
Trời đang nóng dần. Chuẩn bị tám rưỡi và một ngày mới sắp bắt đầu, không khí ẩm
ướt. Tôi đang mong chờ một trận bão, nhưng bầu trời chỉ trống rỗng, nhợt nhạt,
đẫm màu xanh. Tôi gạt giọt mồ hôi ở môi trên, ước rằng mình đã mua một chai
nước.
Sáng nay tôi không nhìn thấy Jason và Jess, và sự thất vọng dấy lên một cách gay
gắt. Thật lố bịch, tôi biết. Tôi nhìn ngôi nhà chăm chú, nhưng chẳng có gì đáng nhìn
cả. Rèm cửa dưới tầng một đang mở nhưng cánh cửa ngoài lại đóng, ánh sáng rọi
vào phản chiếu trên tấm cửa kính. Khung cửa sổ trượt trên lầu cũng đóng. Có lẽ
Jason đang đi làm. Anh ấy là một bác sĩ, tôi nghĩ vậy, có thể là do từng nhìn thấy
một tổ chức nước ngoài. Anh ấy đang rất bận rộn, chiếc túi đồ nằm trên nóc tủ; có
một trận động đất ở Iran hoặc một cơn bão ở châu Á và anh bỏ mọi thứ, túm lấy túi
và đi ngay trong vài giờ, sẵn sàng bay đi cứu người.
Jess, với chiếc váy in và đôi giày thể thao Converse, vẻ đẹp, thái độ của cô, chắn
hẳn là làm trong ngành thời trang. Hoặc cũng có thể trong môi trường ca hát, hay
môi giới quảng cáo - cô ấy có thể là một nhà thiết kế hoặc một nhiếp ảnh gia. Cô
cũng sơn rất đẹp, rất có khiếu nghệ thuật. Bây giờ thì tôi có thể nhìn thấy cô, trên
tầng hai, bật nhạc, mở cửa sổ, cầm trên tay một cây bút lông, một tấm vải căng dựa
vào tường. Cô ấy có thể ở đó cho đến tối; Jason đủ hiểu không nên làm phiền khi cô
đang làm việc.
Tôi không thể thực sự nhìn thấy cô, tất nhiên rồi. Tôi không biết có phải cô ấy
đang vẽ không, hay Jason đang lăn ra cười, hay liệu Jess có một khung xương má
đẹp hoàn hảo. Tôi không thể chiêm ngưỡng cấu trúc xương của cô từ đây, và tôi
cũng chưa từng nghe thấy giọng nói của Jason. Tôi chưa từng nhìn thấy họ âu yếm,
họ không sống ở đây khi tôi còn ở đoạn đường này. Họ chuyển đến sau khi tôi rời
hai năm trước, tôi cũng không biết chính xác thời gian nào. Tôi nghĩ rằng tôi bắt
đầu để ý tới họ một năm trước, và thường xuyên, từng ngày trôi qua, họ trở nên
quan trọng đối với tôi.
Tôi cũng không biết tên của họ, nên tôi đã tự đặt cho họ hai cái tên. Jason, bơi vì
anh ấy khá đẹp trai theo kiểu ngôi sao người Anh, không phải như Depp hay Pitt,
như là Firth, hay Jason Isaacs. Và Jess thì hợp với Jason. Nó cũng hợp với cô, xinh
đẹp và tự do như chính cô. Họ rất đẹp đôi, như được định sẵn. Họ sống hạnh phúc,
tôi có thể thấy được điều đó. Họ chính là những gì mà tôi đã từng, họ là Tom và tôi,
năm năm trước. Họ là những gì tôi đánh mất, là những gì tôi muốn trở thành.
BUỔI TỐI
Chiếc áo sơ mi của tôi đã chật, tạo cảm giác không thoải mái, vết cúc lằn lên ngực
tôi, nó lốm đốm bẩn, những miếng vá ẩm sền sệt, kết dính dưới cánh tay tôi. Mắt và
họng tôi ngứa ran. Tôi không muốn chuyến đi tối nay kéo dài; tôi chỉ muốn về nhà,
để thay quần áo, bước vào bồn tắm, ở nơi không ai có thể nhìn thấy tôi.
Tôi nhìn người đàn ông ngồi ghế đối diện tôi. Anh ta khoảng tuổi tôi, ít hơn hai
lăm tuổi, mái tóc đen, hơi ngả xám trên đỉnh. Da hơi vàng. Anh ta đang mặc một bộ
vét, nhưng đã cởi áo khoác ngoài ra và treo nó ở ghế bên cạnh. Anh ta có một cái
máy tính Macbook, chỉ mỏng như tờ giấy, mở ngay trước mặt. Anh ta đánh rất
chậm. Trên tay phải đeo chiếc đồng hồ bạc mặt to - có vẻ rất đắt, hình như là hãng
Breitling. Anh ta đang nhai phần bên trong má. Có lẽ anh đang lo lắng. Hay chỉ đang
tập trung nghĩ ngợi. Viết một email quan trọng gửi đến trường đại học ở New York,
hoặc một lá thư chia tay gửi cho bạn gái. Anh ta bất ngờ ngẩng lên và bắt gặp ánh
mắt tôi; liếc một lượt, qua chai rượu trên bàn trước mặt tôi. Anh ta nhìn đi chỗ
khác. Có gì đó ở khuôn miệng của anh thể hiện sự khó chịu. Anh ta thấy tôi khó
chịu.
Tôi không còn là người con gái trước kia. Tôi không còn cảm hứng. Theo một
cách nào đó, tôi đang đi xuống. Không phải do sụt cân, hay khuôn mặt tôi sưng phù
vì uống rượu và mất ngủ; như thể mọi người thấy được sự nát vụn in hằn trên cơ
thể tôi, họ nhìn thấy trên mặt tôi, cái cách mà tôi kìm nén bản thân, cái cách tôi di
chuyển.
Buổi tối tuần trước, khi tôi rời phòng để lấy một cốc nước, tôi nghe thấy cathy
nói chuyện với damien, bạn trai của cô, ngoài phòng khách. Tôi đứng ngoài hành
lang nghe lỏm. “Cô ấy đang cô đơn”, Cathy nói, “em rất lo lắng cho cô ấy. cô ấy ở một
mình hầu hết thời gian, điều đó không tốt chút nào.” Rồi cô nói, “chẳng lẽ không có
ai ở công ti anh, hay ở câu lạc bộ bóng bầu dục à?”
Damien nói, “Cho Rachel á? Đừng đùa nữa Cath, anh không quen ai tuyệt vọng
đến mức đấy đâu.”
THỨ NĂM, NGÀY 11, THÁNG BẢY 2013
BUỔI SÁNG
Tôi dán cao lên ngón tay trỏ. Nó bị trầy khi tôi rửa tách cà phê sáng; cảm giác nhầy
nhụa, kết dính, dù tôi đã rửa sạch nó rồi. Tôi không muốn tháo băng ra vì vết cắt
cũng khá sâu. Cathy đã ra ngoài khi tôi về đến nhà, nên tôi ra hàng tạp hoá mua vài
chai rượu. Tôi uống chai đầu tiên và nghĩ rằng có lẽ việc Cathy không ở nhà lại là
một chuyện tốt, tôi có thể nấu cho mình một miếng thịt bò, vị hành tây, trộn lẫn
cùng sa lát xanh. Một bữa ăn đầy đủ và tốt cho sức khoẻ. Tôi tránh đầu ngón tay ra
khi cắt hành. Sau khi tắm rửa sạch sẽ và nằm nghỉ một lúc thì tôi quên béng đi
chuyện bếp núc, lúc tôi dậy đã gần mười giờ và nghe thấy tiếng Cathy và Damien
đang nói chuyện về việc tôi để nhà bếp bẩn thỉu và bừa bộn. Cathy lên tầng tìm tôi,
cô gõ nhẹ vào cửa, mở hé và ngó đầu vào hỏi xem tôi có ổn không. Tôi xin lỗi mặc
dù chẳng biết mình đang xin lỗi cho việc gì. Cô nói chuyện đó không sao, nhưng tôi
có phiền lau dọn lại không? Có vệt máu trên con dao, căn phòng sặc mùi thịt sống,
miếng thịt bò vẫn nằm trên thớt, ngả màu xám. Damien chả buồn chào một câu,
anh ta chỉ lắc đầu khi nhìn thấy tôi rồi đi thẳng lên phòng của Cathy.
Sau khi hai người họ đã đi ngủ, tôi chợt nhớ ra mình vẫn chưa uống chai rượu
thứ hai, nên tôi bật nắp. Tôi tựa lưng vào sô pha và xem ti vi vặn nhỏ vô lum hết
mức để họ không nghe thấy. Tôi không thể nhớ tôi đã xem cái gì, nhưng trong phút
chốc, tôi bỗng cảm thấy cô đơn, hoặc hạnh phúc, hoặc gì đó, bởi tôi muốn nói
chuyện với ai đó. Mong muốn được trò chuyện đang tràn ngập nhưng tôi không còn
ai để trò chuyện ngoài Tom.
Không có ai tôi muốn trò chuyện ngoài Tom. Nhật kí cuộc gọi trên máy tôi báo
rằng tôi đã gọi bốn cuộc: lúc 11.02, 11.12, 11.54, 12.09. Theo thời gian gọi, chắc tôi
đã để lại hai tin nhắn. Anh ấy cũng có thể đã nghe máy, nhưng tôi không thể nhớ có
nói chuyện cùng anh không. Tôi nhớ mang máng tin nhắn đầu tiên; hình như là tôi
bảo anh gọi lại cho tôi. Điều đó có thể được nói trong cả hai tin nhắn, mong là
không có gì tệ lắm.
Con tàu rung lên ở điểm dừng đèn đỏ và tôi nhìn lên. Jess đang ngồi trong sân,
uống một cốc cà phê. Cô tựa chân lên bàn và ngả đầu ra đằng sau, hưởng thụ chút
nắng sớm. Đằng sau cô, tôi nghĩ là mình nhìn thấy một cái bóng, ai đó đang đi tới:
Jason. Tôi mong muốn được nhìn thấy anh, để nhìn thoáng qua gương mặt đẹp trai
của anh. Tôi muốn anh bước ra ngoài, đứng sau cô, cách anh thường làm, hôn lên
đỉnh đầu cô.
Nhưng anh không ra, đầu cô gục xuống. Có gì đó lạ lùng trong cách cô chuyển
động hôm nay rất khác lạ; cô nặng hơn, trùng xuống. Tôi muốn anh bước ra cùng
cô, nhưng con tàu xóc nảy lên và tôi vẫn không thấy bóng dáng của anh; cô đang ở
một mình. Và giờ, không nghĩ ngợi gì hết, tôi nhìn thẳng vào căn nhà, và không thể
quay mặt đi. Cánh cửa ngoài mở toang ra, ánh sáng chiếu rọi vào bếp. Tôi không thể
phân biệt được, thực sự không thể, không biết là mình có đang nhìn hay chỉ tưởng
tượng ra - có phải cô ấy đang ở kia, ở bồn tắm, rửa ráy cơ thể? Có phải kia là một bé
gái ngồi trên chiếc ghế nảy cho trẻ con, trên bàn ăn?
Tôi nhắm mắt lại và để bóng tối ngự trị và lan toả đến khi nó thấm đượm từng
cảm giác của nỗi buồn về một thứ gì đó tồi tệ: một kí ức, một hồi tưởng. Tôi không
chỉ nói với anh gọi lại cho tôi. Tôi nhớ rồi, tôi đã khóc. Tôi nói với anh rằng tôi vẫn
còn yêu anh, và sẽ luôn như vậy. Làm ơn, Tom, xin anh đấy, em cần nói chuyện với
anh. Em nhớ anh. Không không không không không không không.
Tôi cần chấp nhận nó, không có ích gì trong việc chối bỏ nó. Tôi sẽ cảm thấy tồi
tệ cả ngày hôm nay, tất cả sẽ ùa về như làn sóng - mạnh hơn rồi yếu dần rồi lại
mạnh mẽ trở lại - nó cuộn lại trong bụng tôi, nỗi đau đớn vì xấu hổ, cái nhiệt đang
toả ra từ khuôn mặt tôi, tôi nhắm nghiền mắt như thể tôi có thể làm nó biến mất.
Và rồi tôi sẽ nhắc nhở bản thân cả ngày hôm nay, rằng đó không phải điều tồi tệ
nhất, đúng không? Đó không phải điều tồi tệ nhất tôi từng làm, nó không như khi
tôi trượt chân ngã trước công chúng, hay khi tôi mắng một người lạ mặt trên
đường. Nó không như khi tôi làm chồng tôi mất mặt ở bữa tiệc hè bằng cách hét
vào mặt vợ của một người bạn của anh. Nó không như khi chúng tôi cãi nhau vào
một buổi tối ở nhà, lấy gậy ra trét đầy vôi vữa lên tường hành lang phòng ngủ. Nó
không như việc trở lại làm việc sau giờ ăn trưa ba tiếng và bước vào văn phòng với
ánh mắt của mọi người dồn về mình, Martin Miles nói với tôi, tôi nghĩ cô nên về nhà
đi Rachel. Có lần tôi từng đọc một cuốn sách viết bởi một người từng nghiện rượu
khi cô ấy miêu tả cảnh quan hệ bằng miệng với hai người đàn ông khác nhau cô ấy
gặp trong một quán ăn trên đường phố đông đúc ở Luân Đôn. Tôi đọc nó và nghĩ,
tôi không tệ đến mức đấy. Đây chính là nơi quán ba được xây lên.
BUỔI TỐI
Tôi nghĩ về Jess cả ngày, không thể tập trung làm chuyện gì ngoài thứ tôi nhìn thấy
sáng nay. Nó là cái gì mà khiến tôi nghĩ là chuyện gì đó đã xảy ra? Tôi không thể
nhìn thấy rõ biểu cảm khuôn mặt của cô với khoảng cách xa như vậy, những tôi
cảm giác được khi tôi nhìn vào cô, cô đang một mình. Hơn cả một mình - cô đơn. Cô
thể cô ấy đang - hoặc anh không có ở nhà, đi đến một đất nước nào khác cứu
người. Và cô nhớ anh, và cô lo lắng, mặc dù biết rằng anh thực sự phải đi.
Tất nhiên là cô nhớ anh, như tôi vậy. Anh hiền lành và mạnh mẽ, tất cả những gì
mà một người chồng nên có. Và họ là một đôi. Tôi có thể nhìn thấy điều đó, tôi biết
là họ như vậy. Sức mạnh của anh, sự bảo vệ anh dành cho cô, không có nghĩa là cô
yếu đuối. Cô mạnh mẽ theo cách khác; cách cô hành động theo bản năng khiến anh
kinh ngạc và ngưỡng mộ. Cô ấy có thể tìm được trọng tâm của vấn đề, mổ xẻ, phân
tích nó trong thời gian mà hiếm người có thể làm được. Ở những bữa tiệc, anh
thường nắm tay cô, mặc dù họ đã ở bên nhau hàng năm trời. Họ tôn trọng nhau,
không làm nhau thất vọng.
Tôi cảm thấy kiệt sức tối nay. Tỉnh táo, lạnh lùng. Có những ngày tôi cảm thấy
khó khăn nên tôi phải uống; những cũng có những ngày tôi còn cảm thấy tồi tệ
hơn đến mức không thể uống được nữa. Ngày hôm nay, ý nghĩ về cồn lại cuộn trào
trong bụng tôi. Nhưng để tỉnh táo tối nay quả là một thử thách, trong cái nóng này.
Một cảnh tượng ướt át khiến tôi nổi cả da gà, miệng đau nhói, mắt ngứa ngáy,
mascara vón thành cục vào một góc.
Tiếng chuông điện thoại reo lên trong túi, làm tôi giật nảy mình. Hai cô gái ngồi
cách tôi một hàng ghế nhìn tôi chằm chằm rồi quay ra nhìn nhau, nhoẻn miệng
cười. Tôi không biết họ nghĩ gì về mình, nhưng tôi biết nó không tốt đẹp tí nào. Tim
tôi đập loạn xạ trong lồng ngực khi với lấy điện thoại. Tôi cũng biết rằng nó cũng sẽ
là một điều gì đó tồi tệ: có thể là Cathy, dò hỏi tôi một cách tử tế xem tôi có uống
say tuý luý không? Hoặc là mẹ, nói rằng bà sẽ đến Luân Đôn tuần sau, bà sẽ ghé qua
văn phòng, chúng tôi có thể sẽ đi ăn trưa cùng nhau. Tôi nhìn vào màn hình. Đó là
Tom. Tôi chần chừ khoảng một giây rồi bắt máy.
“Rachel?”
Lần đầu tiên trong năm năm trời tôi quen biết anh, tôi chưa bao giờ là Rachel,
luôn là Rach. Thỉnh thoảng là Shelley, vì anh biết tôi ghét nó và điều đó khiến anh
buồn cười chứng kiến tôi khó chịu rồi lại khúc khích vì tôi không còn cách nào
khác ngoài chung vui cùng anh. “Rachel, anh đây.” Giọng anh xám xịt, nghe rất mệt
mỏi.” Nghe này, em phải dừng lại ngay, được không?”. Tôi không nói gì. Con tàu đi
chậm lại, tôi gần đối diện với ngôi nhà, nhà cũ của tôi. Tôi muốn nói chuyện với
anh, ra ngoài đi, ra và đứng trên bãi cỏ. Hãy để em được nhìn thấy anh. “Làm ơn,
Rachel, em không thể gọi cho anh suốt như vậy được. Em cần biết đâu là chừng
mực chứ.” Có một cục gì đó trong cổ họng tôi như mớ bòng bong, trơn và dai. Tôi
không thể nuốt nó xuống được. “Rachel? Em có ở đó không? Anh biết em đang
không ổn, và anh cảm thấy buồn cho em, thật sự đấy, nhưng … anh không thể giúp
em, và những cuộc gọi này khiến Anna buồn. Ok? Anh không thể giúp em việc gì
nữa. Đến AA hay gì đó đi. Làm ơn đấy Rachel. Đến các cuộc gặp mặt AA sau giờ làm
đi.”
Tôi gỡ miếng cao trên ngón tay ra và nhìn vào miếng thịt nhợt nhạt, nhăn nheo
bên dưới cục máu khô. Tôi ấn móng tay vào vết cắt và cảm thấy nó đang bong ra,
cơn đau sắc lẹm và nóng bỏng. Tôi thở nhẹ. Máu bắt đầu rỉ ra từ vết thương. Hai cô
gái ngồi bên kia toa đang nhìn tôi, ngây người ra.
MEGAN
• • •
Một năm trước
THỨ TƯ, NGÀY 16, THÁNG NĂM 2012
BUỔI SÁNG
TÔI NGHE THẤY TIẾNG TÀU đang đến; tôi nằm lòng nhịp điệu này. Nó bắt đầu đi
nhanh khi ra khỏi trạm Northcote và rồi, sau khi rung lắc quanh ray, nó giảm tốc
độ, kêu lên ầm ầm, thỉnh thoảng rít phanh khi dừng lại tại đèn đỏ cách nhà tôi
khoảng trăm thước. Cốc cà phê trên bàn của tôi nguội lạnh, nhưng tôi đang quá ấm
áp và lười nhác để đi pha một tách cà phê khác.
Có lúc tôi còn chả buồn nhìn con tàu chạy qua, chỉ lắng nghe. Ngồi đây vào buổi
sáng, nhắm mắt và ánh nắng mặt trời rọi vào hàng mi, tôi có thể đến mọi nơi. Tôi có
thể đến phía Nam Tây Ban Nha, ở bãi biển; tôi có thể ở Ý, vùng Cinque Terre, những
ngôi nhà với màu sắc đẹp mắt và con tàu ngả ra trước ngả ra sau. Tôi có thể trở lại
Holkham với âm thanh của mòng biển bên tai, vị mặn trên đầu lưỡi và một con tàu
xa đi qua ray cách đó khoảng nửa dặm.
Con tàu không dừng lại hôm nay, nó chỉ di chuyển chậm qua thôi. Tôi có thể
nghe thấy tiếng bánh xe lạo xạo qua ray, gần như cảm thấy nó nảy lên. Tôi không
trông thấy mặt những hành khách nhưng biết rằng họ đang cùng tiến tới Euston để
làm việc, nhưng tôi có thể mơ: đến một hành trình đặc biệt hơn, của sự phiêu lưu
đến tận cùng và xa hơn nữa. Trong trí tưởng tượng của tôi, tôi luôn quay về với
Holkham; nó thật lạ và khiến tôi vẫn luôn nghĩ về nó, trong những buổi sáng như
này, với những cảm xúc, và ao ước, nhưng tôi vẫn làm. Gió thổi trên cỏ, một phiến
đá trên cát, ngôi nhà tràn ngập chuột, đầy nến và bụi bẩn, cùng nhạc. Nó như một
giấc mơ đối với tôi.
Tôi cảm thấy tim đập nhanh hơn.
Tôi nghe thấy tiếng bước chân trên cầu thang, anh gọi tên tôi.
“Em có muốn một cốc cà phê khác không, Megs?”
Câu thần chú hết hiệu nghiệm, tôi tỉnh dậy.
BUỔI TỐI
Tôi ngồi nhâm nhi li Martini lạnh trên tay. Tôi đứng trước thềm, đợi Scott về. Tôi sẽ
thuyết phục anh đưa tôi ra ngoài ăn tối ở một nhà hàng Ý trên đường Kingly. Lần
cuối chúng tôi ra ngoài ăn đã từ rất lâu rồi.
Tôi không có gì làm ngày hôm nay. Đáng ra tôi phải đang viết đơn đăng kí khoá
học dệt ở St Martins; tôi từng thử, tôi đang làm việc trên tầng trong phòng bếp thì
nghe thấy âm thanh một người phụ nữ đang hét lên, tạo ra một thứ tiếng rất kinh
khủng, tôi nghĩ là ai đó đang bị sát hại. Tôi chạy ra ngoài vườn, nhưng không nhìn
thấy gì cả.
Mặc dù vậy, tôi vẫn nghe thấy âm thanh đó, rất tục tĩu, vang qua tai tôi, giọng của
cô ta rít lên tuyệt vọng. “Bà đang làm gì vậy? Bà đang làm gì nó thế? Đưa nó đây, đưa
nó cho tôi.” Nó dường như vang vọng mãi, dù âm thanh đó tắt sau vài giây.
Tôi chạy lên tầng và leo qua ban công, tôi có thể thấy rõ, qua những tán cây, hai
người đàn bà bên cạnh hàng rào, cách một vài khu vườn. Một trong hai người đang
khóc - cũng có thể là cả hai - và có một đứa trẻ đang chửi bới oang oang.
Tôi nghĩ là mình chuẩn bị gọi cảnh sát, nhưng mọi việc dường như đang lắng
xuống. Người đàn bà lúc trước hét chạy thẳng vào trong nhà, bế theo đứa bé. Người
kia đứng ngoài. Bà ta chạy quanh ngôi nhà, sẩy chân, và chạy chân đất quanh khu
vườn theo vòng tròn. Thật lạ lùng. Chúa mới biết điều gì đang xảy ra. Nhưng đó là
khoảnh khắc thú vị nhất mà tôi có trong cả tuần trời.
Cả ngày trôi đi trống rỗng, không còn phòng trưng bày tôi có thể đến nữa. Tôi
thực sự rất nhớ nó. Tôi nhớ những cuộc nói chuyện với các hoạ sĩ. Tôi nhớ cảnh
mặc cả những hàng ăn ngon tuyệt mà tôi thường ...
• • •
THỨ SÁU, MÙNG 5 THÁNG BẢY 2013
BUỔI SÁNG
CÓ MỘT ĐỐNG QUẦN ÁO nằm la liệt dưới ray tàu. Một chiếc áo sơ mi xanh nhạt, có
lẽ vậy, lẫn lộn với thứ gì đó màu trắng đục. Đó có thể là rác rưởi, một phần bị cuốn
ra từ bãi bụi rậm gần bờ sông. Nó cũng có thể bị những người thợ làm việc ở toa tàu
này bỏ lại. Hoặc nó là một thứ gì đó khác. Mẹ từng nói rằng tôi có một trí tưởng
tượng theo hướng tích cực; Tom cũng nói vậy. Tôi không dừng được, mỗi khi tôi
nhìn thấy một đống phế liệu bỏ đi, một chiếc áo bẩn thỉu hay một chiếc giày, tất cả
những gì tôi nghĩ đến là chiếc giày còn lại, và đôi bàn chân đi vừa đôi giày đó.
Con tàu xóc, kéo lê trên ray và rít lên theo từng nhịp chuyển động, đống quần áo
biến mất khỏi tầm mắt tôi. Và chúng tôi đang tiến vào Luân Đôn, với tốc độ nhanh
chóng. Ai đó ngồi sau tôi thở dài một cách khó chịu; chuyến tàu chậm chạp lúc 8:04
từ Ashbury đến Euston có thể kiểm tra độ nhẫn nại của những người đi tàu lâu
năm. Chuyến đi đáng ra mất 54 phút, nhưng nó hiếm khi nhanh đến vậy: toa tàu
này đã cũ nát, hư hỏng, đầy những hỏng hóc về tín hiệu và cần sửa chữa liên tục.
Con tàu di chuyển chậm qua các đài phun nước, cầu và những ngôi nhà của tầng
lớp trung lưu cũ, đối lưng vuông vức với đường ray.
Tôi tựa đầu vào khung cửa sổ, nhìn những ngôi nhà trôi qua như một đoạn phim
ngắn. Tôi nhìn nó theo cách mà người khác không thể, kể cả người chủ của những
ngôi nhà ấy, từ hướng này. Hai lần trong ngày, tôi nhìn vào cuộc sống của người
khác, trong giây lát ngắn ngủi. Có gì đó rất thoải mái khi nhìn cảnh người lạ sống an
toàn trong ngôi nhà của họ.
Điện thoại của ai đó kêu lên, sự thích thú ngẫu nhiên cùng một bài hát lạc quan.
Họ chậm rãi trả lời điện thoại, nó cứ reng reng xung quanh tôi. Tôi có thể cảm nhận
được những người bạn đồng hành của tôi lạo xạo thay đổi tư thế, sột soạt đọc báo
và nghịch máy tính. Con tàu lắc lư, dao động qua chỗ rẽ, chậm rãi tiến gần tới đèn
đỏ. Tôi cố không ngước lên nhìn, cố đọc tờ báo miễn phí được tặng trên đường ra
bến, nhưng những con chữ cứ mờ nhạt trong mắt tôi, không có gì khiến tôi hứng
thú. Trong đầu tôi vẫn còn hình ảnh đống quần áo nằm trên toa, bị vứt bỏ.
BUỔI TỐI
Từng thìa thuốc bổ trộn lẫn với rượu sâm panh xì xèo trên môi khi tôi đưa lên hấp
từng ngụm nhỏ. Nó thơm, hơi lạnh, có vị như kì nghỉ đầu tiên của tôi cùng Tom,
đến khu làng chài ở Basque năm 2005. Vào buổi sáng, chúng tôi sẽ bơi khoảng nửa
dặm ra hòn đảo nhỏ ngoài vịnh, ở một bãi biển kín; buổi chiều, chúng tôi sẽ ngồi
trong quán ba uống những thứ rượu mạnh, xem những trận đá bóng bãi biển trên
nền cát nông.
Tôi nhấp thêm một thìa, và một thìa nữa; cái can đã vơi đi một nửa nhưng vẫn
đủ, tôi còn có ba can nữa trong túi nhựa nằm dưới chân. Hôm nay là thứ sáu, nên
cũng không cần cảm thấy quá tội lỗi về việc uống trên tàu. Chyện vui bây giờ mới
bắt đầu.
Nó sẽ là một cuối tuần thật vui vẻ, đó là những gì họ nói với chúng tôi. Ánh mặt
trời hoà quyện với bầu trời trong vắt không một gợn mây. Ngày xưa, chúng tôi có
thể sẽ lái xe tới rừng Corly để cắm trại, dành cả buổi chiều nằm dài trên cái chăn
dưới ánh nắng lốm đốm, cùng nhau uống rượu. Chúng tôi xó thể sẽ nướng thịt cừu,
hoặc đến vườn hoa hồng và ngồi trong vườn, tận hưởng ánh ban mai và cồn tới tận
cều muộn, rồi cùng nhau về nhà, tay trong tay, ngủ gật trên ghế sô pha.
Vẫn vậy, ánh mặt trời, bầu trời trong veo, nhưng không ai cùng hưởng thụ, chả
có gì để làm. Cuộc sống như vậy, cái cách mà tôi đang sống, khó khăn hơn rất nhiều
vào mùa hè, khi có rất nhiều ánh nắng ban ngày, và cực ít bóng tối, khi mọi người
cùng ra ngoài, vui vẻ và náo nhiệt. Nó làm bạn kiệt sức, và khiến bản thân cảm thấy
tồi tệ vì không tham gia.
Những ngày cuối tuần kéo dài lê thê, còn bốn mươi tám giờ đồng hồ trống rỗng
nữa. Tôi đưa cái can lên miệng, nhưng không còn một giọt nào nữa.
THỨ HAI, NGÀY 8 THÁNG BẢY 2013
BUỔI SÁNG
Thật nhẹ nhõm khi lại được trở lại 8:04. Không phải là tôi mong chờ đến Luân Đôn
để bắt đầu tuần làm việc - thực ra tôi chẳng muốn đến Luân Đôn chút nào. Tôi chỉ
muốn tựa lưng vào chỗ ngồi bằng nhung mềm, trũng xuống, để cảm nhận cái ấm áp
của ánh nắng mặt trời chiếu qua cửa sổ, cảm nhận sự rung chuyển khi lên xuống,
lúc xuống lên và nhịp điệu của bánh xe lăn tròn trên ray. Tôi thà ngồi đây, nhìn ra
những ngôi nhà đằng xa, hơn là bất cứ nơi đâu.
Có một lỗi tín hiệu ở đoạn đường này, khoảng nửa quãng trong suốt chuyến đi
của tôi. Tôi nghĩ là nó bị lỗi, bởi vì nó luôn luôn đỏ; hầu hết chúng tôi phải dừng tại
đây, có lúc thì một vài giây, cũng có lúc khoảng vài phút. Nếu tôi ngồi ở toa D, mà
thường thì tôi ngồi ở đấy, và con tàu dừng ở cột tín hiệu này, thường thì là nó, tôi
có một điểm nhìn tuyệt vời ra ngôi nhà yêu thích của mình: số mười lăm.
Số mười lăm cũng giống như hầu hết những ngôi nhà trên đoạn đường này: một
ngôi nhà đôi, cao hai tầng, nhìn ra một mảnh vườn nhỏ, được chăm nom cẩm thận
với hàng rào cao hai mươi phân, qua một quãng là khu đất hoang. Tôi nằm lòng
ngôi nhà này. Tôi nhớ từng viên gạch, từng màu sắc trên chiếc rèm cửa trong phòng
ngủ tầng hai ( màu be với sơn xanh đậm). Tôi biết rằng sơn đã bị tróc trên khung
cửa sổ và có bốn miếng ngói bị thiếu trên phía bên phải của mái nhà.
Tôi biết rằng vào những buổi tối mừa hè ấm áp, người chủ của ngôi nhà, Jason va
Jess, thỉnh thoảng hay trèo lên bậc thềm to trước khung cửa trên mái nhà phòng
bếp. Họ là một cặp trời sinh. Anh ta có mái tóc đen, thân hình vạm vỡ, khoẻ mạnh,
tốt bụng. Anh ta còn có nụ cười rất tuyệt. Cô ấy thuộc kiểu nhỏ người, xinh đẹp, da
trắng với mái tóc vàng ruộm cắt ngắn. Cô có cấu trúc xương má nhọn, lốm đốm tàn
nhang và một khuôn hàm đầy đặn.
Trong khi chúng tôi đang mắc kẹt tại các tín hiệu đèn đỏ, tôi tìm họ. Jess thường
ra ngoài vào buổi sáng, đặc biệt là vào mùa hè, đi uống cà phê. Đôi khi, khi tôi nhìn
thấy cô ấy ở đó, tôi cảm thấy như cô ấy cũng đang nhìn thấy mình, như thể cô nhìn
thẳng vào tôi, và tôi muốn vẫy tay. Tôi có thể tự ý thức điều đó. Tôi không thấy
Jason nhiều, anh ấy đi làm nhiều. Nhưng ngay cả khi họ không có ở đó, tôi vẫn suy
nghĩ về những gì họ có thể đang làm. Có lẽ sáng nay họ có một ngày nghỉ và cô ấy
đang nằm trên giường trong khi anh làm bữa sáng, hoặc có thể họ đi tập thể dục với
nhau, bởi vì đó là loại điều họ thường làm. (Tom và tôi thường đi bộ với nhau vào
ngày chủ nhật, tôi đi nhanh hơn một chút so với tốc độ bình thường, còn anh ấy đi
khoảng một nửa tốc độ, nên chúng tôi có thể chạy song song nhau.) Có lẽ Jess đang
trên lầu, sơn tường, hoặc có thể họ đang trong phòng tắm cùng nhau, hai tay cô ấy
ép vào tường, tay anh đặt trên eo cô.
BUỔI TỐI
Đi chậm rãi về phía cửa sổ, tôi tựa lưng vào ghế, mở một trong những chai Chenin
Blanc nhỏ tôi mua từ Whistlestop khi ở Euston. Nó không lạnh, nhưng chắc cũng
thơm. Tôi đổ một ít vào cốc nhựa, vít lại nút và đặt các chai vào trong túi xách.
Uống rượu trên tàu vào ngày thứ hai thật khó chấp nhận được, trừ khi uống rượu
với công ty, mà tôi thì không.
Có nhiều gương mặt quen thuộc trên chuyến tàu, những người tôi thấy mỗi
tuần, đi tới đi lui. Tôi nhận ra họ và họ có thể nhận ra tôi. Tôi không biết liệu họ
nhìn thấy tôi, nhận ra con người thật của tôi.
Đó là một buổi tối đẹp, ấm áp, mặt trời lặn chậm rãi, bóng tối kéo dài còn ánh
sáng chỉ mới bắt đầu đánh bóng những cây đề vàng. Các tàu lượn qua nơi ở của
Jason và Jess, khi ánh sáng mặt trời đã tối mờ. Đôi khi, tuy không thường xuyên, tôi
có thể nhìn thấy họ từ bên này của đoàn tàu. Nếu không có chuyến tàu nào đi theo
hướng ngược lại, và nếu chúng tôi đi vừa đủ chậm, đôi khi tôi còn bắt gặp họ liếc
qua mình trên sân thượng. Nếu không - như ngày hôm nay - Tôi có thể tưởng
tượng ra họ. Jess sẽ được ngồi trên bàn nhìn ra sân thượng, với một ly rượu vang
trên tay, Jason đứng đằng sau cô, đặt tay lên vai cô. Tôi có thể tưởng tượng được
cảm giác của bàn tay, trọng lượng của chúng, mang đến cảm giác trấn an và bảo vệ.
Đôi khi tôi thấy bản thân mình đang cố gắng nhớ lại lần cuối cùng tôi chạm vào
một ai đó, một cái chạm ý nghĩa, chỉ cần một cái ôm hay một cái bắt tay khiến con
tim tôi loạn nhịp.
THỨ BA, NGÀY 9 THÁNG BẢY 2013
BUỔI SÁNG
Đống quần áo từ tuần trước vẫn còn đó, có vẻ bẩn hơn vài ngày trước. Tôi đọc ở đâu
đó rằng một đoàn tàu có thể thổi bay bộ quần áo trên người nạn nhân khi nó đâm.
Điều đó không phải bất thường, những cái chết do xe lửa. Hai đến ba trăm vụ trong
một năm, vậy là có ít nhất một người chỉ trong vài ngày. Tôi không chắc có bao
nhiêu người trong đó là tình cờ. Tôi xem xét cẩn thận, khi con tàu từ từ lăn qua,
xem có vệt máu nào trên quần áo không, nhưng tôi không thể nhìn thấy bất kỳ vệt
nào.
Đoàn tàu dừng tại ở các tín hiệu như bình thường. Tôi nhìn thấy Jess đứng trên
hiên phía trước cửa ra vào. Cô mặc một chiếc váy in sáng màu, đi chân đất. Cô nhìn
qua vai, vào bên trong nhà; có thể đang nói chuyện với Jason, trong khi anh đang
làm bữa sáng. Tôi giữ ánh nhìn cố định vào Jess, về ngôi nhà của cô, khi con tàu bắt
đầu nhích về phía trước. Tôi không muốn nhìn những ngôi nhà khác; đặc biệt là
ngôi nhà cách đó 4 cánh cửa, cái từng là của tôi.
Tôi sống ở số hai mươi ba đường Blenheim trong năm năm, sung sướng, hạnh
phúc tuy nhiên cũng khá tồi tệ. Tôi không thể nhìn vào nó lúc này. Đó là căn nhà
đầu tiên của tôi. Không phải nhà cha mẹ tôi, không phải là một ngôi nhà trọ với các
sinh viên khác, ngôi nhà đầu tiên của tôi. Tôi không chịu được khi nhìn vào nó.
Vâng, tôi có thể, tôi nhìn, tôi muốn, tôi không muốn, tôi cố gắng không nhìn. Mỗi
ngày tôi nhắc nhở bản thân mình không nhìn, và mỗi ngày tôi vẫn nhìn. Tôi không
thể giúp bản thân mình, mặc dù không có gì tôi muốn nhìn thấy ở đó, dù cho bất cứ
điều gì tôi nhìn thấy sẽ làm tôi tổn thương. Mặc dù tôi nhớ rất rõ cảm giác khi tôi
nhìn lên và nhận thấy cái kem bông trong phòng ngủ trên lầu đã biến mất, thay thế
bằng một cái gì đó mềm mại màu hồng; mặc dù tôi vẫn còn nhớ những nỗi đau mà
tôi cảm thấy khi tôi nhìn thấy Anna tưới bụi hoa hồng gần hàng rào, chiếc áo sơ mi
của cô kéo dài sệ dưới bụng của cô, và tôi cắn môi tới khi nó chảy máu.
Tôi nhắm chặt mắt lại và đếm đến mười, mười lăm, hai mươi. Được rồi, nó qua
rồi, không có gì để nhìn nữa. Chúng tôi đi qua trạm Witney, đoàn tàu đang tăng tốc
nhanh chóng khỏi vùng ngoại ô Bắc Luân Đôn bẩn thỉu, dơ dáy. Những ngôi nhà
thềm cao đã được thay thế bằng nhiều con cầu nối tiếp nhau và những toà nhà
trống trải với cửa sổ vỡ vụn. Càng đến gần Euston, tôi càng cảm thấy lo lắng, áp lực
đè nặng, ngày hôm nay sẽ diễn ra như thế nào? Có một toà nhà bọc bê tông cáu bẩn
phía tay phải đường ray cách Euston khoảng 500 mét. Ai đó đã sơn lên tường dòng
chữ: CUỘC SỐNG KHÔNG PHẢI LÀ MỘT ĐOẠN VĂN. Tôi lại nghĩ đến đống quần áo
dưới chân đường ray và cảm thấy cổ họng nghẹn ứ. Cuộc sống không phải một
đoạn văn và cái chết không phải dấu ngoặc kết.
BUỔI TỐI
Đoàn tàu tôi bắt vào buổi chiều, số 17.56, chậm hơn một chút so với cái buổi sáng mất một tiếng và một phút, đúng bảy phút lâu hơn chuyến tàu buổi sáng mặc dù
không phải dừng ở bất kì trạm nào. Tôi không quan tâm lắm, vì tôi đã không phải
vội vã đến Luân Đôn vào buổi sáng, thì chẳng có lí gì tôi lại muốn về Ashbury vào
buổi chiều. Không chỉ bởi vì nó là Ashbury, mặc dù nơi đây cũng đủ tệ rồi, nó là một
thành phố mới những năm 1960, lan rộng ra như cục bướu đến trái tim của
Buckinghamshire. Không tốt hơn cũng chẳng tệ hơn hàng tá những thành phố
khác, một khu trung tâm với những quán cà phê, bốt điện thoại và các chi nhánh
của các công ti thể thao JD, bao quanh bởi một ban nhạc từ ngoại ô và các thể loại
rạp chiếu phim và dịch vụ Tesco du nhập từ bên ngoài thành phố. Tôi sống trong
khu hiện đại nhất, mới nhất, nằm ở trung tâm thương mại, đang dần chuyển ra
phía ngoại tỉnh, nhưng nó không phải nhà tôi. Nhà tôi là một căn nhà đôi nằm trên
đoạn đường mà đoàn tàu đi qua, cái mà tôi từng sở hữu. Ở Ashbury, tôi không phải
là chủ nhà, không phải là người ở nhờ - tôi đi thuê trọ, ở chung phòng ngủ nhỏ, cũ
kĩ cùng với Cathy, cô nàng hiền lành, vô hại, đương nhiên là rất yêu kiều, đảm đang,
dễ chiếm được cảm tình.
Cathy và tôi từng là bạn đại học. Một phần là bạn bè, thực sự, chúng tôi chưa bao
giờ thân thiết đến mức đấy. Cô sống cùng khu với tôi năm đầu tiên và chúng tôi
tham gia cùng môt khóa học, vì vậy chúng tôi gần như đồng minh trong vài tuần
học đầu khó khăn, trước khi chúng tôi gặp những người thực sự có nhiều điểm
chung. Chúng tôi hiếm khi gặp nhau sau năm đầu tiên và hầu như không lần nào
sau khi ra trường, trừ ở những đám cưới của bạn bè. Nhưng trong giờ khắc khó
khăn, cô đã để tôi ở chung phòng và điều đó thực sự có ý nghĩa. Tôi đã chắc chắn
rằng nó chỉ tạm thời trong một vài tháng, nhiều nhất là sáu tháng, và tôi không biết
phải làm gì khác. Tôi sẽ không bao giờ có thể sống một mình, tôi đã từng chuyển từ
căn hộ của bố mẹ đến ở chung nhà với người xa lạ, rồi đến Tom, tôi thấy ý tưởng
của Cathy thật tuyệt vời, vì vậy tôi nói có. Và thời điểm đó là gần hai năm trước.
Nó không khủng khiếp. Cathy là một người tốt bụng, theo một cách mạnh mẽ.
Cô khiến bạn nhận thấy giá trị của cô. Tốt bụng là điều hiển nhiên, đó là phẩm chất
của cô, và cô ấy muốn nó được thừa nhận, thường xuyên, hầu như hàng ngày, điều
đó có thể khiến tôi mệt mỏi. Nhưng nó không đến nỗi tệ lắm, tôi có thể nghĩ về
những đặc điểm tồi tệ hơn ở một người chung phòng. Không, không phải do Cathy,
cũng chẳng phải Ashbury khiến tôi phiền lòng (tôi vẫn cảm thấy chưa quen với tình
huống này, mặc dù đã được hai năm). Đó là sự mất kiểm soát. Ngôi nhà của Cathy
luôn khiến tôi thấy như một vị khách dù họ tiếp đón rất nhiệt tình. Tôi có cảm giác
đó khi ở trong bếp, nơi chúng tôi phải tiết kiệm từng khoảng không qian nhỏ bé để
ăn tối. Tôi có cảm giác đó khi tựa vào chiếc ghế sô pha, nơi tôi có thể bao trọn căn
phòng. Nơi duy nhất khiến tôi có cảm giác như nhà mình là căn phòng ngủ nhỏ, chỉ
nhét vừa một chiếc giường đôi và một cái bàn, chỉ cách nhau một chút để lấy lối đi.
Đủ tiện nghi, nhưng nó không phải nơi bạn muốn ở, vì thế tôi luôn nấn ná ở phòng
khách hoặc ở bàn ăn, mệt mỏi và không có tí năng lượng nào. Tôi mất kiểm soát
mọi thứ, ngay cả cái nơi trong xuất hiện trong đầu.
THỨ TƯ, NGÀY 10 THÁNG BẢY 2013
BUỔI SÁNG
Trời đang nóng dần. Chuẩn bị tám rưỡi và một ngày mới sắp bắt đầu, không khí ẩm
ướt. Tôi đang mong chờ một trận bão, nhưng bầu trời chỉ trống rỗng, nhợt nhạt,
đẫm màu xanh. Tôi gạt giọt mồ hôi ở môi trên, ước rằng mình đã mua một chai
nước.
Sáng nay tôi không nhìn thấy Jason và Jess, và sự thất vọng dấy lên một cách gay
gắt. Thật lố bịch, tôi biết. Tôi nhìn ngôi nhà chăm chú, nhưng chẳng có gì đáng nhìn
cả. Rèm cửa dưới tầng một đang mở nhưng cánh cửa ngoài lại đóng, ánh sáng rọi
vào phản chiếu trên tấm cửa kính. Khung cửa sổ trượt trên lầu cũng đóng. Có lẽ
Jason đang đi làm. Anh ấy là một bác sĩ, tôi nghĩ vậy, có thể là do từng nhìn thấy
một tổ chức nước ngoài. Anh ấy đang rất bận rộn, chiếc túi đồ nằm trên nóc tủ; có
một trận động đất ở Iran hoặc một cơn bão ở châu Á và anh bỏ mọi thứ, túm lấy túi
và đi ngay trong vài giờ, sẵn sàng bay đi cứu người.
Jess, với chiếc váy in và đôi giày thể thao Converse, vẻ đẹp, thái độ của cô, chắn
hẳn là làm trong ngành thời trang. Hoặc cũng có thể trong môi trường ca hát, hay
môi giới quảng cáo - cô ấy có thể là một nhà thiết kế hoặc một nhiếp ảnh gia. Cô
cũng sơn rất đẹp, rất có khiếu nghệ thuật. Bây giờ thì tôi có thể nhìn thấy cô, trên
tầng hai, bật nhạc, mở cửa sổ, cầm trên tay một cây bút lông, một tấm vải căng dựa
vào tường. Cô ấy có thể ở đó cho đến tối; Jason đủ hiểu không nên làm phiền khi cô
đang làm việc.
Tôi không thể thực sự nhìn thấy cô, tất nhiên rồi. Tôi không biết có phải cô ấy
đang vẽ không, hay Jason đang lăn ra cười, hay liệu Jess có một khung xương má
đẹp hoàn hảo. Tôi không thể chiêm ngưỡng cấu trúc xương của cô từ đây, và tôi
cũng chưa từng nghe thấy giọng nói của Jason. Tôi chưa từng nhìn thấy họ âu yếm,
họ không sống ở đây khi tôi còn ở đoạn đường này. Họ chuyển đến sau khi tôi rời
hai năm trước, tôi cũng không biết chính xác thời gian nào. Tôi nghĩ rằng tôi bắt
đầu để ý tới họ một năm trước, và thường xuyên, từng ngày trôi qua, họ trở nên
quan trọng đối với tôi.
Tôi cũng không biết tên của họ, nên tôi đã tự đặt cho họ hai cái tên. Jason, bơi vì
anh ấy khá đẹp trai theo kiểu ngôi sao người Anh, không phải như Depp hay Pitt,
như là Firth, hay Jason Isaacs. Và Jess thì hợp với Jason. Nó cũng hợp với cô, xinh
đẹp và tự do như chính cô. Họ rất đẹp đôi, như được định sẵn. Họ sống hạnh phúc,
tôi có thể thấy được điều đó. Họ chính là những gì mà tôi đã từng, họ là Tom và tôi,
năm năm trước. Họ là những gì tôi đánh mất, là những gì tôi muốn trở thành.
BUỔI TỐI
Chiếc áo sơ mi của tôi đã chật, tạo cảm giác không thoải mái, vết cúc lằn lên ngực
tôi, nó lốm đốm bẩn, những miếng vá ẩm sền sệt, kết dính dưới cánh tay tôi. Mắt và
họng tôi ngứa ran. Tôi không muốn chuyến đi tối nay kéo dài; tôi chỉ muốn về nhà,
để thay quần áo, bước vào bồn tắm, ở nơi không ai có thể nhìn thấy tôi.
Tôi nhìn người đàn ông ngồi ghế đối diện tôi. Anh ta khoảng tuổi tôi, ít hơn hai
lăm tuổi, mái tóc đen, hơi ngả xám trên đỉnh. Da hơi vàng. Anh ta đang mặc một bộ
vét, nhưng đã cởi áo khoác ngoài ra và treo nó ở ghế bên cạnh. Anh ta có một cái
máy tính Macbook, chỉ mỏng như tờ giấy, mở ngay trước mặt. Anh ta đánh rất
chậm. Trên tay phải đeo chiếc đồng hồ bạc mặt to - có vẻ rất đắt, hình như là hãng
Breitling. Anh ta đang nhai phần bên trong má. Có lẽ anh đang lo lắng. Hay chỉ đang
tập trung nghĩ ngợi. Viết một email quan trọng gửi đến trường đại học ở New York,
hoặc một lá thư chia tay gửi cho bạn gái. Anh ta bất ngờ ngẩng lên và bắt gặp ánh
mắt tôi; liếc một lượt, qua chai rượu trên bàn trước mặt tôi. Anh ta nhìn đi chỗ
khác. Có gì đó ở khuôn miệng của anh thể hiện sự khó chịu. Anh ta thấy tôi khó
chịu.
Tôi không còn là người con gái trước kia. Tôi không còn cảm hứng. Theo một
cách nào đó, tôi đang đi xuống. Không phải do sụt cân, hay khuôn mặt tôi sưng phù
vì uống rượu và mất ngủ; như thể mọi người thấy được sự nát vụn in hằn trên cơ
thể tôi, họ nhìn thấy trên mặt tôi, cái cách mà tôi kìm nén bản thân, cái cách tôi di
chuyển.
Buổi tối tuần trước, khi tôi rời phòng để lấy một cốc nước, tôi nghe thấy cathy
nói chuyện với damien, bạn trai của cô, ngoài phòng khách. Tôi đứng ngoài hành
lang nghe lỏm. “Cô ấy đang cô đơn”, Cathy nói, “em rất lo lắng cho cô ấy. cô ấy ở một
mình hầu hết thời gian, điều đó không tốt chút nào.” Rồi cô nói, “chẳng lẽ không có
ai ở công ti anh, hay ở câu lạc bộ bóng bầu dục à?”
Damien nói, “Cho Rachel á? Đừng đùa nữa Cath, anh không quen ai tuyệt vọng
đến mức đấy đâu.”
THỨ NĂM, NGÀY 11, THÁNG BẢY 2013
BUỔI SÁNG
Tôi dán cao lên ngón tay trỏ. Nó bị trầy khi tôi rửa tách cà phê sáng; cảm giác nhầy
nhụa, kết dính, dù tôi đã rửa sạch nó rồi. Tôi không muốn tháo băng ra vì vết cắt
cũng khá sâu. Cathy đã ra ngoài khi tôi về đến nhà, nên tôi ra hàng tạp hoá mua vài
chai rượu. Tôi uống chai đầu tiên và nghĩ rằng có lẽ việc Cathy không ở nhà lại là
một chuyện tốt, tôi có thể nấu cho mình một miếng thịt bò, vị hành tây, trộn lẫn
cùng sa lát xanh. Một bữa ăn đầy đủ và tốt cho sức khoẻ. Tôi tránh đầu ngón tay ra
khi cắt hành. Sau khi tắm rửa sạch sẽ và nằm nghỉ một lúc thì tôi quên béng đi
chuyện bếp núc, lúc tôi dậy đã gần mười giờ và nghe thấy tiếng Cathy và Damien
đang nói chuyện về việc tôi để nhà bếp bẩn thỉu và bừa bộn. Cathy lên tầng tìm tôi,
cô gõ nhẹ vào cửa, mở hé và ngó đầu vào hỏi xem tôi có ổn không. Tôi xin lỗi mặc
dù chẳng biết mình đang xin lỗi cho việc gì. Cô nói chuyện đó không sao, nhưng tôi
có phiền lau dọn lại không? Có vệt máu trên con dao, căn phòng sặc mùi thịt sống,
miếng thịt bò vẫn nằm trên thớt, ngả màu xám. Damien chả buồn chào một câu,
anh ta chỉ lắc đầu khi nhìn thấy tôi rồi đi thẳng lên phòng của Cathy.
Sau khi hai người họ đã đi ngủ, tôi chợt nhớ ra mình vẫn chưa uống chai rượu
thứ hai, nên tôi bật nắp. Tôi tựa lưng vào sô pha và xem ti vi vặn nhỏ vô lum hết
mức để họ không nghe thấy. Tôi không thể nhớ tôi đã xem cái gì, nhưng trong phút
chốc, tôi bỗng cảm thấy cô đơn, hoặc hạnh phúc, hoặc gì đó, bởi tôi muốn nói
chuyện với ai đó. Mong muốn được trò chuyện đang tràn ngập nhưng tôi không còn
ai để trò chuyện ngoài Tom.
Không có ai tôi muốn trò chuyện ngoài Tom. Nhật kí cuộc gọi trên máy tôi báo
rằng tôi đã gọi bốn cuộc: lúc 11.02, 11.12, 11.54, 12.09. Theo thời gian gọi, chắc tôi
đã để lại hai tin nhắn. Anh ấy cũng có thể đã nghe máy, nhưng tôi không thể nhớ có
nói chuyện cùng anh không. Tôi nhớ mang máng tin nhắn đầu tiên; hình như là tôi
bảo anh gọi lại cho tôi. Điều đó có thể được nói trong cả hai tin nhắn, mong là
không có gì tệ lắm.
Con tàu rung lên ở điểm dừng đèn đỏ và tôi nhìn lên. Jess đang ngồi trong sân,
uống một cốc cà phê. Cô tựa chân lên bàn và ngả đầu ra đằng sau, hưởng thụ chút
nắng sớm. Đằng sau cô, tôi nghĩ là mình nhìn thấy một cái bóng, ai đó đang đi tới:
Jason. Tôi mong muốn được nhìn thấy anh, để nhìn thoáng qua gương mặt đẹp trai
của anh. Tôi muốn anh bước ra ngoài, đứng sau cô, cách anh thường làm, hôn lên
đỉnh đầu cô.
Nhưng anh không ra, đầu cô gục xuống. Có gì đó lạ lùng trong cách cô chuyển
động hôm nay rất khác lạ; cô nặng hơn, trùng xuống. Tôi muốn anh bước ra cùng
cô, nhưng con tàu xóc nảy lên và tôi vẫn không thấy bóng dáng của anh; cô đang ở
một mình. Và giờ, không nghĩ ngợi gì hết, tôi nhìn thẳng vào căn nhà, và không thể
quay mặt đi. Cánh cửa ngoài mở toang ra, ánh sáng chiếu rọi vào bếp. Tôi không thể
phân biệt được, thực sự không thể, không biết là mình có đang nhìn hay chỉ tưởng
tượng ra - có phải cô ấy đang ở kia, ở bồn tắm, rửa ráy cơ thể? Có phải kia là một bé
gái ngồi trên chiếc ghế nảy cho trẻ con, trên bàn ăn?
Tôi nhắm mắt lại và để bóng tối ngự trị và lan toả đến khi nó thấm đượm từng
cảm giác của nỗi buồn về một thứ gì đó tồi tệ: một kí ức, một hồi tưởng. Tôi không
chỉ nói với anh gọi lại cho tôi. Tôi nhớ rồi, tôi đã khóc. Tôi nói với anh rằng tôi vẫn
còn yêu anh, và sẽ luôn như vậy. Làm ơn, Tom, xin anh đấy, em cần nói chuyện với
anh. Em nhớ anh. Không không không không không không không.
Tôi cần chấp nhận nó, không có ích gì trong việc chối bỏ nó. Tôi sẽ cảm thấy tồi
tệ cả ngày hôm nay, tất cả sẽ ùa về như làn sóng - mạnh hơn rồi yếu dần rồi lại
mạnh mẽ trở lại - nó cuộn lại trong bụng tôi, nỗi đau đớn vì xấu hổ, cái nhiệt đang
toả ra từ khuôn mặt tôi, tôi nhắm nghiền mắt như thể tôi có thể làm nó biến mất.
Và rồi tôi sẽ nhắc nhở bản thân cả ngày hôm nay, rằng đó không phải điều tồi tệ
nhất, đúng không? Đó không phải điều tồi tệ nhất tôi từng làm, nó không như khi
tôi trượt chân ngã trước công chúng, hay khi tôi mắng một người lạ mặt trên
đường. Nó không như khi tôi làm chồng tôi mất mặt ở bữa tiệc hè bằng cách hét
vào mặt vợ của một người bạn của anh. Nó không như khi chúng tôi cãi nhau vào
một buổi tối ở nhà, lấy gậy ra trét đầy vôi vữa lên tường hành lang phòng ngủ. Nó
không như việc trở lại làm việc sau giờ ăn trưa ba tiếng và bước vào văn phòng với
ánh mắt của mọi người dồn về mình, Martin Miles nói với tôi, tôi nghĩ cô nên về nhà
đi Rachel. Có lần tôi từng đọc một cuốn sách viết bởi một người từng nghiện rượu
khi cô ấy miêu tả cảnh quan hệ bằng miệng với hai người đàn ông khác nhau cô ấy
gặp trong một quán ăn trên đường phố đông đúc ở Luân Đôn. Tôi đọc nó và nghĩ,
tôi không tệ đến mức đấy. Đây chính là nơi quán ba được xây lên.
BUỔI TỐI
Tôi nghĩ về Jess cả ngày, không thể tập trung làm chuyện gì ngoài thứ tôi nhìn thấy
sáng nay. Nó là cái gì mà khiến tôi nghĩ là chuyện gì đó đã xảy ra? Tôi không thể
nhìn thấy rõ biểu cảm khuôn mặt của cô với khoảng cách xa như vậy, những tôi
cảm giác được khi tôi nhìn vào cô, cô đang một mình. Hơn cả một mình - cô đơn. Cô
thể cô ấy đang - hoặc anh không có ở nhà, đi đến một đất nước nào khác cứu
người. Và cô nhớ anh, và cô lo lắng, mặc dù biết rằng anh thực sự phải đi.
Tất nhiên là cô nhớ anh, như tôi vậy. Anh hiền lành và mạnh mẽ, tất cả những gì
mà một người chồng nên có. Và họ là một đôi. Tôi có thể nhìn thấy điều đó, tôi biết
là họ như vậy. Sức mạnh của anh, sự bảo vệ anh dành cho cô, không có nghĩa là cô
yếu đuối. Cô mạnh mẽ theo cách khác; cách cô hành động theo bản năng khiến anh
kinh ngạc và ngưỡng mộ. Cô ấy có thể tìm được trọng tâm của vấn đề, mổ xẻ, phân
tích nó trong thời gian mà hiếm người có thể làm được. Ở những bữa tiệc, anh
thường nắm tay cô, mặc dù họ đã ở bên nhau hàng năm trời. Họ tôn trọng nhau,
không làm nhau thất vọng.
Tôi cảm thấy kiệt sức tối nay. Tỉnh táo, lạnh lùng. Có những ngày tôi cảm thấy
khó khăn nên tôi phải uống; những cũng có những ngày tôi còn cảm thấy tồi tệ
hơn đến mức không thể uống được nữa. Ngày hôm nay, ý nghĩ về cồn lại cuộn trào
trong bụng tôi. Nhưng để tỉnh táo tối nay quả là một thử thách, trong cái nóng này.
Một cảnh tượng ướt át khiến tôi nổi cả da gà, miệng đau nhói, mắt ngứa ngáy,
mascara vón thành cục vào một góc.
Tiếng chuông điện thoại reo lên trong túi, làm tôi giật nảy mình. Hai cô gái ngồi
cách tôi một hàng ghế nhìn tôi chằm chằm rồi quay ra nhìn nhau, nhoẻn miệng
cười. Tôi không biết họ nghĩ gì về mình, nhưng tôi biết nó không tốt đẹp tí nào. Tim
tôi đập loạn xạ trong lồng ngực khi với lấy điện thoại. Tôi cũng biết rằng nó cũng sẽ
là một điều gì đó tồi tệ: có thể là Cathy, dò hỏi tôi một cách tử tế xem tôi có uống
say tuý luý không? Hoặc là mẹ, nói rằng bà sẽ đến Luân Đôn tuần sau, bà sẽ ghé qua
văn phòng, chúng tôi có thể sẽ đi ăn trưa cùng nhau. Tôi nhìn vào màn hình. Đó là
Tom. Tôi chần chừ khoảng một giây rồi bắt máy.
“Rachel?”
Lần đầu tiên trong năm năm trời tôi quen biết anh, tôi chưa bao giờ là Rachel,
luôn là Rach. Thỉnh thoảng là Shelley, vì anh biết tôi ghét nó và điều đó khiến anh
buồn cười chứng kiến tôi khó chịu rồi lại khúc khích vì tôi không còn cách nào
khác ngoài chung vui cùng anh. “Rachel, anh đây.” Giọng anh xám xịt, nghe rất mệt
mỏi.” Nghe này, em phải dừng lại ngay, được không?”. Tôi không nói gì. Con tàu đi
chậm lại, tôi gần đối diện với ngôi nhà, nhà cũ của tôi. Tôi muốn nói chuyện với
anh, ra ngoài đi, ra và đứng trên bãi cỏ. Hãy để em được nhìn thấy anh. “Làm ơn,
Rachel, em không thể gọi cho anh suốt như vậy được. Em cần biết đâu là chừng
mực chứ.” Có một cục gì đó trong cổ họng tôi như mớ bòng bong, trơn và dai. Tôi
không thể nuốt nó xuống được. “Rachel? Em có ở đó không? Anh biết em đang
không ổn, và anh cảm thấy buồn cho em, thật sự đấy, nhưng … anh không thể giúp
em, và những cuộc gọi này khiến Anna buồn. Ok? Anh không thể giúp em việc gì
nữa. Đến AA hay gì đó đi. Làm ơn đấy Rachel. Đến các cuộc gặp mặt AA sau giờ làm
đi.”
Tôi gỡ miếng cao trên ngón tay ra và nhìn vào miếng thịt nhợt nhạt, nhăn nheo
bên dưới cục máu khô. Tôi ấn móng tay vào vết cắt và cảm thấy nó đang bong ra,
cơn đau sắc lẹm và nóng bỏng. Tôi thở nhẹ. Máu bắt đầu rỉ ra từ vết thương. Hai cô
gái ngồi bên kia toa đang nhìn tôi, ngây người ra.
MEGAN
• • •
Một năm trước
THỨ TƯ, NGÀY 16, THÁNG NĂM 2012
BUỔI SÁNG
TÔI NGHE THẤY TIẾNG TÀU đang đến; tôi nằm lòng nhịp điệu này. Nó bắt đầu đi
nhanh khi ra khỏi trạm Northcote và rồi, sau khi rung lắc quanh ray, nó giảm tốc
độ, kêu lên ầm ầm, thỉnh thoảng rít phanh khi dừng lại tại đèn đỏ cách nhà tôi
khoảng trăm thước. Cốc cà phê trên bàn của tôi nguội lạnh, nhưng tôi đang quá ấm
áp và lười nhác để đi pha một tách cà phê khác.
Có lúc tôi còn chả buồn nhìn con tàu chạy qua, chỉ lắng nghe. Ngồi đây vào buổi
sáng, nhắm mắt và ánh nắng mặt trời rọi vào hàng mi, tôi có thể đến mọi nơi. Tôi có
thể đến phía Nam Tây Ban Nha, ở bãi biển; tôi có thể ở Ý, vùng Cinque Terre, những
ngôi nhà với màu sắc đẹp mắt và con tàu ngả ra trước ngả ra sau. Tôi có thể trở lại
Holkham với âm thanh của mòng biển bên tai, vị mặn trên đầu lưỡi và một con tàu
xa đi qua ray cách đó khoảng nửa dặm.
Con tàu không dừng lại hôm nay, nó chỉ di chuyển chậm qua thôi. Tôi có thể
nghe thấy tiếng bánh xe lạo xạo qua ray, gần như cảm thấy nó nảy lên. Tôi không
trông thấy mặt những hành khách nhưng biết rằng họ đang cùng tiến tới Euston để
làm việc, nhưng tôi có thể mơ: đến một hành trình đặc biệt hơn, của sự phiêu lưu
đến tận cùng và xa hơn nữa. Trong trí tưởng tượng của tôi, tôi luôn quay về với
Holkham; nó thật lạ và khiến tôi vẫn luôn nghĩ về nó, trong những buổi sáng như
này, với những cảm xúc, và ao ước, nhưng tôi vẫn làm. Gió thổi trên cỏ, một phiến
đá trên cát, ngôi nhà tràn ngập chuột, đầy nến và bụi bẩn, cùng nhạc. Nó như một
giấc mơ đối với tôi.
Tôi cảm thấy tim đập nhanh hơn.
Tôi nghe thấy tiếng bước chân trên cầu thang, anh gọi tên tôi.
“Em có muốn một cốc cà phê khác không, Megs?”
Câu thần chú hết hiệu nghiệm, tôi tỉnh dậy.
BUỔI TỐI
Tôi ngồi nhâm nhi li Martini lạnh trên tay. Tôi đứng trước thềm, đợi Scott về. Tôi sẽ
thuyết phục anh đưa tôi ra ngoài ăn tối ở một nhà hàng Ý trên đường Kingly. Lần
cuối chúng tôi ra ngoài ăn đã từ rất lâu rồi.
Tôi không có gì làm ngày hôm nay. Đáng ra tôi phải đang viết đơn đăng kí khoá
học dệt ở St Martins; tôi từng thử, tôi đang làm việc trên tầng trong phòng bếp thì
nghe thấy âm thanh một người phụ nữ đang hét lên, tạo ra một thứ tiếng rất kinh
khủng, tôi nghĩ là ai đó đang bị sát hại. Tôi chạy ra ngoài vườn, nhưng không nhìn
thấy gì cả.
Mặc dù vậy, tôi vẫn nghe thấy âm thanh đó, rất tục tĩu, vang qua tai tôi, giọng của
cô ta rít lên tuyệt vọng. “Bà đang làm gì vậy? Bà đang làm gì nó thế? Đưa nó đây, đưa
nó cho tôi.” Nó dường như vang vọng mãi, dù âm thanh đó tắt sau vài giây.
Tôi chạy lên tầng và leo qua ban công, tôi có thể thấy rõ, qua những tán cây, hai
người đàn bà bên cạnh hàng rào, cách một vài khu vườn. Một trong hai người đang
khóc - cũng có thể là cả hai - và có một đứa trẻ đang chửi bới oang oang.
Tôi nghĩ là mình chuẩn bị gọi cảnh sát, nhưng mọi việc dường như đang lắng
xuống. Người đàn bà lúc trước hét chạy thẳng vào trong nhà, bế theo đứa bé. Người
kia đứng ngoài. Bà ta chạy quanh ngôi nhà, sẩy chân, và chạy chân đất quanh khu
vườn theo vòng tròn. Thật lạ lùng. Chúa mới biết điều gì đang xảy ra. Nhưng đó là
khoảnh khắc thú vị nhất mà tôi có trong cả tuần trời.
Cả ngày trôi đi trống rỗng, không còn phòng trưng bày tôi có thể đến nữa. Tôi
thực sự rất nhớ nó. Tôi nhớ những cuộc nói chuyện với các hoạ sĩ. Tôi nhớ cảnh
mặc cả những hàng ăn ngon tuyệt mà tôi thường ...
 





