Hoa hậu Hoàn Vũ Việt Nam 2017 H'hen Niê đọc sách tranh Sóc con đi học
Chào mừng quý vị đến với website của
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Siêu hình học

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Trần Thị Hạnh
Ngày gửi: 16h:04' 12-07-2025
Dung lượng: 1'023.6 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Trần Thị Hạnh
Ngày gửi: 16h:04' 12-07-2025
Dung lượng: 1'023.6 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
SIÊU HÌNH HỌC
Ebook miễn phí tại : www.SachMoi.net
(TOMAS ALVIRA
- LUIS CLAVELL - TOMAS MELENDO)
Nguyên tác (tiếng Tây Ban Nha): METAFISICA do Tomas Alvira, Luis Clavell, Tomas
Melendo 1981
Bản tiếng Anh METAPHYSICS do Fr. Luis Supan 1991
Bản tiếng Việt SIÊU HÌNH HỌC (dịch từ bản tiếng Anh) do Fr. Đỗ Ngọc Bảo, O.P 2008
LỜI NÓI ĐẦU
Trong hai thập niên gần đây, một số lượng lớn những tác phẩm triết học đã ấn hành đều là
những chuyên khảo và những khảo luận, mà tốt nhất nên coi như sách sử ký và phân loại. Kèm
theo hiện tượng này là chuyện suy giảm việc ấn hành và sử dụng những tác phẩm triết học có
tầm mức tổng quát hơn, ví dụ những sách giáo khoa. Điều này có thể là do những thay đổi thị
hiếu của độc giả đương đại – giờ đây dường như họ cần được thoát khỏi lối tiếp cận hệ thống
quá mức và học thuật quá cao của nhiều sách giáo khoa triết học.
Mặt khác, khuynh hướng muốn chuyên hóa và muốn thủ đắc lối hiểu mang đậm tính lịch
sử cũng như suy tư về các vấn đề triết học đã khiến chúng ta lơ là với một công tác quan trọng,
đó là cung ứng cho những ai muốn đi vào lãnh vực triết học một kiến thức cơ bản có thể được
dùng như nền tảng cho một sự hấp thụ phúc lợi nhiều nghiên cứu chuyên sâu.
Quyển sách này là một bản giáo khoa về triết học cơ bản, đó là Siêu hình học – khoa học
về hữu thể, như vẫn luôn được hiểu kể từ thời Permenides, Plato, Aristotle, và Thánh Thomas
Aquinas cho đến ngày nay. Siêu hình học đặc biệt có giá trị trong thời chúng ta như triết học
khai mở đến sự siêu việt của hữu thể sau nhiều thế kỷ bị hạn chế do chủ quan. Những nghiên
cứu đương đại về hiện tượng luận, hiện sinh, và triết học phân tích, thêm một lần nữa đã làm
dấy lên những vấn đề liên quan đến hữu thể.
Mục tiêu của chúng tôi là trình bày cho độc giả những nguyên tắc siêu hình một cách sáng
tỏ và thứ tự. Do đó, độc giả có thể giải quyết những vấn đề triết học nóng bỏng mà con người
thời đại chúng ta phải đối mặt.
T. ALVIRA
- L. CLAVELL - T. MELENDO
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
03
DẪN NHẬP
05
I. BẢN CHẤT SIÊU HÌNH HỌC
06
1.
2.
3.
4.
1.
2.
3.
4.
5.
6.
1.
2.
3.
4.
5.
6.
1.
2.
3.
4.
1.
2.
3.
4.
1.
2.
Khái niệm Siêu hình học
Siêu hình học như Khoa học về Hữu thể xét như Hữu thể
Siêu hình học và Tri thức Nhân loại
Siêu hình học Liên quan thế nào đến Đức tin và Thần học
07
08
13
16
II. HỮU THỂ – KHỞI ĐIỂM CỦA SIÊU HÌNH HỌC
22
Khái niệm Hữu thể
Yếu tính – Cách thức Hiện hữu của Sự vật
Việc Hiện hữu (Esse)
Việc Hiện hữu xét như Hiện thế Mãnh liệt nhất
Ý nghĩa của Esse như động từ nối trong một câu
Các đặc tính của khái niệm hữu thể
22
24
25
29
34
36
III. NGUYÊN LÝ BẤT-MÂU THUẪN
45
Nguyên lý Đầu tiên về Hữu thể
Những Đường lối Diễn tả Nguyên lý Bất- Mâu thuẫn
Tri thức Qui nạp về Nguyên lý Đầu tiên
Sự Hiển nhiên của Nguyên lý này và lối Bảo vệ nó nhờ luận chứng
“Đối Nhân”
Vai trò của Nguyên lý Đầu tiên trong Siêu hình học
Những Nguyên lý Sơ yếu khác đặt cơ sở trên Nguyên lý Bất-Mâu
thuẫn
46
47
49
50
54
56
PHẦN I:CẤU TRÚC SIÊU HÌNH CỦA HỮU THỂ
59
I. BẢN THỂ VÀ PHỤ THỂ
60
Bản chất Bản thể và các Phụ thể
Việc Hiện hữu thuộc về Bản thể
Phức hợp Bản thể và Phụ thể
Tri thức của ta về Bản thể và Phụ thể
60
68
70
76
II. CÁC PHẠM TRÙ
80
Khái niệm về các Phạm trù
Phân loại chín giống tối cao
Phẩm chất
Tương quan
80
82
87
92
III. CẤU TRÚC HIỆN THẾ – TIỀM NĂNG CỦA HỮU THỂ
102
Khái niệm về Hiện thế và Tiềm năng
Những loại Hiện thế và Tiềm năng
102
109
3.
4.
5.
6.
1.
2.
3.
1.
2.
3.
4.
1.
2.
3.
4.
1.
2.
3.
4.
1.
2.
3.
4.
1.
2.
Tính Ưu tiên của Hiện thế
Tương quan giữa Hiện thế và Tiềm năng xét như những nguyên lý
cấu tạo của Hữu thể
Viễn tượng Siêu hình học về Hiện thế và Tiềm năng
Phạm vi siêu hình của hiện thế và tiềm năng
113
117
121
123
IV. YẾU TÍNH CỦA MỘT HỮU THỂ
125
Yếu tính: cách thức hiện hữu của một bản thể
Yếu tính của những hữu thể vật chất
Yếu tính của những bản thể thiêng liêng
V. NGUYÊN LÝ CÁ VẬT HÓA
Yếu tính của những hữu thể chỉ tồn tại nơi mỗi cá thể
Việc tăng bội yếu tính nơi những cá vật
Việc đơn lẻ hóa yếu tính
Việc cá vật hóa các phụ thể và các bản thể thiêng liêng
126
129
136
138
138
140
142
146
VI. ESSE: HIỆN THẾ TỐI HẬU CỦA MỘT BẢN THỂ
149
Việc Hiện hữu là nền tảng tối hậu của mọi thực tại
“ESSE” và Yếu tính phân biệt nhau thực sự
Phức hợp “Yếu tính – Hiện hữu” là cấu trúc cơ bản của những vật
thụ tạo
ESSE, xét như Hiện thế, là trọng tâm của Siêu hình học Thomas
149
153
159
161
VII. CHỦ THỂ HIỆN HỮU ĐỘC LẬP
165
Khái niệm về Chủ thể Hiện hữu Độc lập
Phân biệt giữa Bản chất và Suppositum
Việc Hiện hữu thuộc về Suppositum
Ngôi vị
166
170
172
175
PHẦN II. CÁC SIÊU NGHIỆM
181
I. NHỮNG KHÍA CẠNH SIÊU NGHIỆM CỦA HỮU THỂ
182
Khái niệm Siêu nghiệm và các Phạm trù
Những khía cạnh Siêu nghiệm của Hữu thể
Hữu thể: nền tảng của những đặc điểm Siêu nghiệm
Hữu thể và những đặc điểm của nó đều mang tính loại suy
183
187
192
196
II. TÍNH ĐƠN NHẤT CỦA HỮU THỂ
200
Tính Đơn nhất Siêu nghiệm
Những thể loại và những cấp độ của tính Đơn nhất
200
204
3.
4.
5.
1.
2.
3.
1.
2.
3.
1.
2.
3.
4.
1.
2.
Tính Đa bội
Những khái niệm nảy sinh từ tính Đơn nhất, và những khái niệm đối
lập với tính Đơn nhất
1.
2.
3.
211
Aliquid (“another” or “something”)
213
III. CHÂN LÝ
215
Hữu thể và Chân lý
Chân lý là đặc điểm siêu nghiệm của Hữu thể
Chân lý nơi trí năng con người
215
216
221
IV. THIỆN HẢO
224
Bản chất của Thiện hảo
Thiện hảo và Hoàn bị
Thiện hảo và Giá trị
224
229
233
V. CÁI ĐẸP
236
Bản chất Cái Đẹp
Vẻ đẹp và Hoàn bị
Những cấp độ của Vẻ Đẹp
Con người Tri giác Vẻ Đẹp
236
240
242
245
PHẦN III. CĂN NGUYÊN TÍNH
248
I. NHẬN THỨC VỀ TÍNH NHÂN QUẢ ĐÍCH THỰC
249
Kinh nghiệm về tính Nhân quả
Nguyên lý Nhân quả
250
254
II. BẢN CHẤT CỦA CĂN NGUYÊN TÍNH VÀ CÁC LOẠI
CĂN NGUYÊN
1.
2.
3.
207
Bản chất của Căn nguyên tính
Căn nguyên, Nguyên lý, Điều kiện và Cơ hội
Những loại Căn nguyên tính
264
264
266
269
III. CĂN NGUYÊN CHẤT LIỆU VÀ CĂN NGUYÊN HÌNH
THẾ
276
Bản chất Căn nguyên Chất liệu
Căn nguyên Hình thế
Tương quan giữa Căn nguyên Chất liệu và Căn nguyên Hình thế
277
281
284
IV. NHỮNG CĂN NGUYÊN TÁC THÀNH
289
1.
2.
1.
2.
3.
Bản chất Căn nguyên Tác thành
Những loại Căn nguyên Tác thành
V.HOẠT ĐỘNG XÉT NHƯ HIỆN THẾ CỦA CĂN NGUYÊN
TÍNH TÁC THÀNH
304
Bản chất của Hoạt động
Nền tảng của Hoạt động
Những năng lực tác động xét như những nguyên lý gần cho hoạt
động
306
310
1.
2.
3.
4.
312
VI. CĂN NGUYÊN CỨU CÁNH
317
Bản chất Căn nguyên Cứu cánh
Những loại Căn nguyên Cứu cánh
Nguyên lý về Cứu cánh tính
Mục đích là Căn nguyên cho những căn nguyên khác
318
320
324
332
VII.Căn nguyên tính nơi Thiên Chúa&Căn nguyên tính nơi Thụ
tạo
1.
2.
3.
290
293
Những giới hạn nơi Căn nguyên tính Thụ tạo
Những đặc trưng của Căn nguyên tính nơi Căn nguyên Đệ nhất
Tương quan giữa Căn nguyên Đệ nhất và những Căn nguyên Đệ nhị
338
339
348
352
DẪN NHẬP
CHƯƠNG I: BẢN CHẤT SIÊU HÌNH HỌC
Con người luôn ngạc nhiên về nguồn gốc vũ trụ. Con người làm việc liên tục, đi tìm một
sự giải thích về vũ trụ – một thứ giải thích gọi được là tối hậu và phổ quát, hoặc bao trùm
tất cả. Qua dòng lịch sử, đã khai sinh nhiều trường phái. Một số trường phái coi nền tảng cơ
bản của thực tại chính là một yếu tố đặc thù gắn liền với thực tại đó, ví dụ vật chất, tinh thần,
tư tưởng hay chuyển động, và như vậy cũng có nghĩa rằng mọi sự trong vũ trụ đều nảy sinh từ
yếu tố đó. Số khác lại thừa nhận sự hiện hữu của một Nguyên Lý siêu việt, vốn làm nên vũ trụ
mà không phải là thành phần của vũ trụ. Một số nhà tư tưởng lại đề cập đến sự hiện diện của
một nguồn gốc vũ trụ, đang khi những người khác lại cho rằng vũ trụ đến từ hai hoặc nhiều
nguồn.
Những vấn đề trên không thuần túy là suy lý; trái lại, chúng ảnh hưởng rất nhiều lên đời
sống con người. Vì đương nhiên có sự khác biệt giữa một bên là người tin rằng mọi sự – kể cả
chính anh ta – phát sinh từ vật chất ù lì và quay về với vật chất – và bên kia là người tin rằng
mình được Thiên Chúa tạo dựng, Ngài đưa anh ta từ hư vô sang hiện hữu.
Khởi đầu, việc nghiên cứu những vấn đề trên tạo nên một bộ tri thức gọi là triết lý, minh
triết, hoặc khoa học. Sau này, để tránh lẫn lộn với nhiều khoa học đặc thù khác, khoa học nói
trên được gọi là Siêu hình học.
1. KHÁI NIỆM SIÊU HÌNH HỌC
Ta có thể định nghĩa Siêu hình học là việc nghiên cứu căn nguyên tối hậu, những nguyên lý
đầu tiên và phổ quát nhất của thực tại.
a. Căn nguyên tối hậu khác biệt với những căn nguyên gần. Ví dụ, việc tăng áp suất
không khí là căn nguyên cho việc thay đổi khí hậu; quả tim là cơ quan khiến cho máu lưu thông.
Việc nghiên cứu những căn nguyên nói trên thuộc về những khoa học đặc thù. Trái lại, những
căn nguyên tối hậu có ảnh hưởng trên một khung cảnh, ví dụ như một nhà lãnh đạo chính trị ảnh
hưởng lên toàn thể đất nước của ông, hay ước muốn của một con người đi tìm hạnh phúc đối
với toàn thể hoạt động nhân linh của anh ta. Khoa Siêu hình học xét đến căn nguyên tối hậu
tuyệt đối của vũ trụ. Nó cố gắng tìm ra căn nguyên đó, nghiên cứu về bản chất và hoạt động
của căn nguyên nói trên, và vì Thiên Chúa là căn nguyên tối hậu của mọi sự, nên hiển nhiên
Ngài cũng là chủ đề chính yếu của Siêu hình học.
b. Siêu hình học cũng nghiên cứu những nguyên lý đầu tiên và phổ quát nhất của thực
tại. Bên cạnh những căn nguyên ảnh hưởng lên những hiệu quả của chúng ở bên ngoài, còn có
những yếu tố nội tại nơi chính các hiệu quả, kiến tạo nên chúng và ảnh hưởng đến cách thức
hiện hữu và hoạt động của chúng. Các yếu tố đó thường được gọi là các nguyên lý; chẳng hạn,
những nguyên tử là các nguyên lý nhất định cho phân tử, xác định bản chất và những đặc điểm
của các phân tử; nơi các sinh thể, các tế bào hoạt động như những nguyên lý cho cơ thể. Nhưng
Siêu hình học đi tìm những nguyên lý đầu tiên và phổ quát nhất, tức là những nguyên lý mà về
cơ bản tạo nên mọi sự. Bất cứ ai xét một điều gì như nguyên lý nội tại đầu tiên của mọi sự,
người đó đã đề cập đến lãnh vực siêu hình.
2. SIÊU HÌNH HỌC NHƯ KHOA HỌC VỀ HỮU THỂ XÉT NHƯ HỮU THỂ
Mỗi khoa học đều có đối tượng nghiên cứu riêng vốn là một khía cạnh của thực tại mà nó
lưu ý đến. Chẳng hạn, sinh vật học nghiên cứu thế giới các sinh thể, toán học nghiên cứu những
khía cạnh lượng tính của sự vật.
Ta cần phân biệt đối tượng chất liệu (material object) với đối tượng hình thế (formal
object) của một khoa học; điều trước được coi là “chủ đề” của một khoa học vì nó là tổng số
những gì được nghiên cứu, đang khi điều sau là khía cạnh của đối tượng chất liệu mà khoa học
chú ý đến. Chẳng hạn đối tượng chất liệu của sinh học là tất cả mọi sinh thể, nhưng đối tượng
hình thế của nó lại giới hạn đối tượng nghiên cứu, vì khoa học này chỉ diễn tiến việc nghiên
cứu từ khởi điểm là sự sống. Tương tự thế, đối tượng chất liệu của y học là cơ thể con người,
nhưng đối tượng hình thế của nó là cơ thể con người trong mức độ đó là chủ thể của sức khỏe
hoặc bệnh tật.
Siêu hình học nghiên cứu hữu thể xét như hữu thể,
những đặc điểm và căn nguyên của hữu thể
Các khoa học đặc thù có đối tượng nghiên cứu là một số khía cạnh chuyên biệt của
thực tại. Tuy nhiên, cần có một khoa học nào khác nghiên cứu toàn bộ thực tại bằng cách chú
trọng đến khía cạnh chung nhất của mọi sự: đó là, mọi sự đều “hiện hữu”, nó là “thực”. Khía
cạnh chung đó được giả thiết bởi bất cứ loại tri giác đặc thù nào. Chẳng hạn khi một nhà thực
vật học nghiên cứu và xếp loại các loài, ông ta biết rằng “có những cây”, biết rằng chúng là
“những hữu thể”; khái niệm hữu thể hiện đến trước bất cứ khái niệm về một loài thực vật nào.
Ta cần giải thích việc đó như sau:
i) Hữu thể: đây là một thuật ngữ siêu hình tương đương với điều được gọi là “sự vật”
(thing) trong ngôn ngữ thông thường. Hữu thể ám chỉ “thứ gì có”, hay một điều gì đó có việc
hiện hữu (hiện thế hiện hữu = act of being). Một cây là một hữu thể, giống như một con chim,
một người, một viên kim cương đều là hữu thể; nhưng đang khi từ ngữ “con chim” nói đến một
bản chất đặc thù hay một cách thức hiện hữu, thì hữu thể lại diễn tả sự kiện là có con chim
(Ens, L.t – Being).
ii) Xét như hữu thể: trong cuốn giải thích sách Siêu hình học của Aristotle, Thánh
Thomas Aquinas đã nói: “Những khoa học khác, vốn liên hệ đến những hữu thể đặc thù, cũng
xét đến hữu thể (vì mọi đối tượng nghiên cứu của các khoa học cũng đều là hữu thể); tuy nhiên,
chúng không nghiên cứu hữu thể xét như hữu thể, mà chỉ như một loại hữu thể đặc thù nào đó,
ví dụ, con số hay hàng kẻ, ngọn lửa hay thứ gì tương tự1. Vì thế, có thể nói rằng đối tượng chất
liệu (đối tượng chung) của Siêu hình học là thực tại trong toàn tính của nó, vì mọi sự vật,
bất kể bản tính ra sao – đều là hữu thể. Mặt khác, đối tượng hình thế (đối tượng riêng) của nó
là “hữu thể xét như hữu thể” (being as being) hoặc “hữu thể xét nguyên nó là thế” (being
as such). Nói rằng đối tượng chất liệu của Siêu hình học bao gồm tất cả thực tại, không có
nghĩa rằng Siêu hình học là tổng số các khoa học đặc thù khác biệt nhau. Đó cũng không phải
là sự tổng hợp mọi khoa học đặc thù (như chủ trương của một số triết gia phái thực chứng
luận) (positivist philosophers). Siêu hình học là một khoa học riêng biệt, vì nó nghiên cứu một
khía cạnh đặc thù của thực tại phù hợp với Siêu hình học, đồng thời cũng được các khoa học
khác giả thiết – đó là sự hiện hữu của các sự vật.
iii) Đặc điểm và căn nguyên của hữu thể: Khi chọn đối tượng nghiên cứu, mỗi khoa học
phải nghiên cứu những đặc tính của đối tượng và tất cả những gì liên quan tới đối tượng bất cứ
cách nào. Đang khi môn vật lý nghiên cứu kết quả của những đặc điểm vật lý nơi vật thể, chẳng
hạn như khối lượng hoặc năng lượng của chúng, thì Siêu hình học nghiên cứu những đặc điểm
của hữu thể theo mức độ chúng là những hữu thể. Vậy công việc của Siêu hình học cũng còn là
khám phá những khía cạnh của hữu thể xét nguyên nó là thế (being as such) (ví dụ, “chân lý”),
cũng như những khía cạnh không thuộc về hữu thể xét như hữu thể (chẳng hạn “vật chất” hay
bản chất vật thể).
Hơn nữa, bất cứ khoa học nào cũng đều nghiên cứu một loại các sự vật riêng biệt và
những căn nguyên riêng của chúng, vì tri thức không thể hoàn bị trừ phi nắm bắt được những
căn nguyên. Do đó Siêu hình học phải nghiên cứu căn nguyên của mọi hữu thể trong mức độ
chúng là hữu thể: điều này là một trong những phạm vi chính của Siêu hình học khi nghiên cứu
đối tượng riêng của mình. Cũng như y khoa nghiên cứu những căn nguyên về sức khỏe thể lý
(ví dụ việc dinh dưỡng, khí hậu, vệ sinh), thì Siêu hình học dẫn chúng ta đến căn nguyên việc
hiện hữu nơi mọi sự vật – tức là Thượng Đế, xét như Đấng Tạo Hóa.
Một khi đã tiến bộ trong việc hiểu biết những vấn đề siêu hình khác nhau, chúng ta sẽ
càng thấy rõ là những đặc điểm cơ bản nhất của thế giới thực tế lệ thuộc vào chân lý nền tảng
này là mọi vật đều hiện hữu: rằng chúng là những hữu thể. Việc hiện hữu là đặc điểm nền
tảng nhất của mọi sự vật, vì mọi hoàn bị hay đặc tính của chúng, trước khi là một điều gì, thì
trước hết phải hiện hữu đã. Đây là điều kiện sơ yếu mà mọi vật đều phải lệ thuộc vào. Vì Siêu
hình học là khoa học đi tìm yếu tố căn bản nhất của thực tại, nên nhất thiết nó phải nhắm đến
việc hiện hữu như đối tượng nghiên cứu nền tảng của mình.
Một vài trường phái tư tưởng triết học đã chọn những khía cạnh khác của thực tại như
đối tượng của Siêu hình học. Chẳng hạn, “thuyết duy sinh” (vitalism) coi sự sống là đối tượng;
“thuyết hiện sinh” (existentialism) lại coi đó là cuộc hiện sinh của con người; “thuyết duy tâm”
(idealism) coi đó là tư tưởng con người; “thuyết duy sử” (historicism) lại coi đó là tiến bộ của
lịch sử. Kant chủ trương các điều kiện của tri thức khoa học như đối tượng triết học của ông
(“criticism”). Tuy nhiên, tất cả những triết gia này không bao giờ tránh khỏi được việc nghiên
cứu về hữu thể; điều họ làm là giới hạn hữu thể vào một đối tượng đặc thù và hạn chế nào
đó.
Nguồn gốc lịch sử của khoa học về hữu thể
Kể từ thời các triết gia đầu tiên, khoa học về hữu thể được hiểu như một tri thức phổ
quát có mục tiêu là khám phá những yếu tố sơ yếu (primary elements) của thực tại. Tuy nhiên,
yếu tố này luôn được đồng hóa với một yếu tố vật chất nào đó (như lửa, khí hoặc nước…), cho
đến khi Parmenides lần đầu tiên nói đến hữu thể như khía cạnh nền tảng của thực tại. Ông nói:
“hữu thể thì hiện hữu và vô thể thì không hiện hữu, đó là cách thức thuyết phục (vì nó đi theo
Chân Lý)” (Fr. II. V.3). Tuy không hoàn toàn coi thường học thuyết của Parmenides, các triết
gia về sau lại chú ý đến những khía cạnh triết lý khác. Tuy nhiên, khi Aristotle vào cuộc, thì
hữu thể đã ưu tiên trở thành đối tượng của khoa Siêu hình học.
Những danh hiệu gán cho khoa Siêu hình học
Siêu hình học được gán nhiều danh xưng, tùy theo những khía cạnh mà người ta muốn
nhấn mạnh. Aristotle gọi đó là Đệ nhất Triết học, vì nó nghiên cứu những căn nguyên và
nguyên lý đầu tiên của thực tại. Danh xưng này diễn tả xác đáng địa vị trung tâm của Siêu hình
học trong triết học, và nó cũng khiến cho Siêu hình học khác biệt với những ngành tri thức khác
mà Aristotle gọi là Đệ nhị Triết học. Siêu hình học là “đệ nhất” không phải vì nó có sớm về
mặt biên niên. Nó là đệ nhất bởi vì có tính ưu tiên đương nhiên trong triết học xét như toàn
khối, và trong tương quan với những khoa học khác.
Danh xưng bên ngôn ngữ Tây phương “Metaphysics” (mà cứ chữ có nghĩa là “vượt quá
Vật lý (Physics)” đã được Andronicus người xứ Rhodes ghép vào để nói đến những tác phẩm
của Aristotle về “Đệ nhất Triết học”, vì nó được xếp sau cuốn sách của Aristotle về vật lý.
Danh xưng đó đã diễn tả đúng mức bản chất của khoa học này, vì nó vượt qua khung cảnh thực
tại vật chất được nghiên cứu trong khoa vật lý.
Sang thế kỷ XVII, Christian Wolff gọi môn học này là Ontology (Hữu thể luận), một
thuật ngữ phát nguyên từ tiếng Hy lạp có nghĩa là “việc nghiên cứu về hữu thể”. Các triết gia
duy lý ưa dùng thuật ngữ “Hữu thể luận” thay vì “Siêu hình học”. Dẫu sao, “Hữu thể luận”
cũng diễn tả cùng một đối tượng của Siêu hình học.
3. SIÊU HÌNH HỌC VÀ TRI THỨC NHÂN LOẠI
Siêu hình học và tri thức tự phát
Mọi người đều có một tri thức tổng quát về thực tại, thủ đắc nhờ ánh sáng lý trí tự
nhiên. Họ biết mình muốn nói gì khi đề cập đến “hữu thể”, “chân lý”, hay “thiện hảo”. Họ có
một tri thức nào đó về bản chất con người, và về khác biệt giữa những thực tại “bản thể” và
“phụ thể”. Hơn thế nữa, mọi người còn có thể nhận biết Thượng Đế là Đệ nhất Căn nguyên của
vũ trụ, Đấng gìn giữ và hướng dẫn vạn sự đi đến cùng đích. Chúng ta gọi loại tri thức này là tri
thức tự phát, cũng liên quan tới những đề tài được nghiên cứu bởi Siêu hình học. Điều này
không có gì phải ngạc nhiên, vì con người tự nhiên có khuynh hướng tìm hiểu về vũ trụ, về vai
trò của mình trong vũ trụ, nguồn gốc vũ trụ vv… Do đó, ta cũng dễ hiểu tại sao loại tri thức
này được gọi là Siêu hình học tự phát hoặc Siêu hình học tự nhiên của trí tuệ con người2. Tuy
nhiên, điều này không xóa bỏ nhu cầu về một khoa Siêu hình học được khai triển thành một
khoa học, bởi nhiều lý do: vì tri thức tự phát thì thường không hoàn bị và thiếu chính xác; vì có
lẽ nó không đủ chắc chắn và sáng tỏ trong một số khía cạnh; sau cùng, vì nó chịu ảnh hưởng
bởi các ý thức hệ ưu thắng trong một số khung cảnh văn hóa, hoặc được nhiều người chấp
nhận.
Ngoài ra, cần ghi nhận rằng những xác tín luân lý của mỗi con người đều có ảnh hưởng
quyết định đến tri thức của người đó về các vấn đề Siêu hình học. Kinh nghiệm cho thấy
rằng, một khi những cá nhân mất đi sự chín chắn về mặt luân lý, thì họ cũng mất luôn những xác
tín trí thức nền tảng, do đó rơi vào thái độ hoài nghi trước chân lý. Chẳng hạn, họ bị dẫn đến
thuyết vô tri liên quan đến tri thức mà người ta có về Thượng Đế, và bị dẫn đến thuyết tương
đối liên quan đến những đòi hỏi của luật luân lý. Rốt cuộc, con người tự tôn mình như trung
tâm của toàn thể vũ trụ. Đây chính là lý do tiềm ẩn đằng sau một số hệ thống triết học đối
nghịch triệt để với chân lý, chẳng hạn thuyết Mác xít, thuyết vô tri, và thuyết duy tâm: những
thuyết trên đều là những cơ cấu lý thuyết xây dựng trên một số thái độ cơ bản sai lạc đối với
cuộc sống con người. Vì là một khoa học, Siêu hình học phần nào chịu ảnh hưởng bởi đời sống
luân lý của các triết gia trong cuộc. Ảnh hưởng này càng rõ ràng trong những điểm chính mà
các vấn đề kỹ thuật chuyên môn hơn tùy thuộc vào.
Vai trò dẫn dắt của Siêu hình học đối với các khoa học khác
Vì Siêu hình học bàn đến những vấn đề hết sức nền tảng của tri thức nhân loại, và vì
đối tượng nghiên cứu của nó bao trùm lên toàn thể thực tại, nên đương nhiên các khoa học đặc
thù, một cách nào đó, đều tùy thuộc vào Siêu hình học. Đối tượng nghiên cứu của mỗi khoa học
đặc thù là một loại hữu thể đặc thù. Chính vì thế mà những nguyên lý siêu hình, những đặc
điểm của hữu thể, và một số khái niệm nền tảng khác về thực tại cũng được phản ảnh cách nào
đó trong khu vực nghiên cứu chuyên biệt của một khoa học đặc thù. Những nguyên lý đó được
các khoa học đặc thù tiếp nhận và, dù không hiển nhiên được chúng khám phá, vẫn được các
khoa học đó sử dụng khi cần thiết. Ví dụ, khi các nhà vật lý tiến hành thí nghiệm về năng lực
của vật thể trong hoạt động lý hóa của chúng, họ đã sử dụng đến nguyên lý nhân quả, với tất cả
những hàm ý của nguyên lý đó.
Trong nỗ lực tìm hiểu thấu đáo đối tượng nghiên cứu của mình, các nhà khoa học thực
nghiệm thường quay về với các vấn đề triết học. Do đó ta không ngạc nhiên khi thấy một số
nhà vật lý đương đại, như Heisenberg, Einstein, Planck, De Broglie, Bohr, và Schrodinger,
cũng đã viết những thiên khảo luận về các đề tài Siêu hình học. Toan tính của những khoa học
đặc thù muốn đạt sự độc lập tuyệt đối khỏi bất cứ tri thức siêu hình nào (đây là hậu quả của
thuyết thực chứng) sẽ không bao giờ đạt được hoàn toàn.
Như vậy có thể thấy rằng Siêu hình học giữ một vai trò dẫn dắt so với các khoa học đặc
thù khác, vì nó là đỉnh điểm của tri thức nhân loại trong lãnh vực tự nhiên. Vai trò này được
gọi đúng đắn là minh triết (sapiential), vì khôn ngoan (wisdom) có vai trò riêng là điều khiển
tri thức và hoạt động của con người nhờ vào những nguyên lý đầu tiên và mục đích tối hậu của
con người.
4. SIÊU HÌNH HỌC LIÊN QUAN THẾ NÀO ĐẾN ĐỨC TIN VÀ THẦN HỌC
Vượt ra ngoài và bên trên tri thức tự phát cũng như tri thức khoa học, còn có một thứ tri
thức thuộc lãnh vực siêu nhiên. Tri thức này phát sinh từ Mặc Khải của Thiên Chúa. Đây là
loại tri thức cao siêu, vì nó hoàn bị hóa mọi tri thức của nhân loại, hướng dẫn tri thức nhân
loại đến mục tiêu siêu nhiên của con người.
Đức tin hỗ trợ Triết học
Một số chân lý siêu hình, cho dù có thể được con người nhận biết cách tự nhiên, vẫn
được Thiên Chúa mặc khải. Bên cạnh việc bày tỏ những mầu nhiệm siêu nhiên cho con
người, mặc khải của Thiên Chúa cũng còn cho con người nhận biết được những chân lý chủ
lực tối hậu về vũ trụ, về con người, và về chính Thiên Chúa – những chân lý kiến tạo nên đối
tượng nghiên cứu của Siêu hình học. Vì mắc tội nguyên tổ, con người thật khó mà biết được
những chân lý trên là hết sức cần thiết cho đời sống luân lý – với một sự chắc chắn tuyệt đối,
không chút sai lầm. Vì thế, Thiên Chúa đã mặc khải cho con người những chân lý như : tạo
dựng mọi sự từ hư vô (ex nihilo), Thiên Chúa quan phòng, tính thiêng liêng và bất tử của
linh hồn con người, sự hiện hữu và bản chất của một Thiên Chúa chân thật, luật luân lý và mục
đích vĩnh cửu của con người, và thậm chí cả danh xưng riêng biệt của Thiên Chúa như Đấng
Hằng Hữu (God as the Subsisting Act of Being: “I am who am”).
Với sự trợ giúp của Mặc Khải, Siêu hình học có được cú nhảy vọt ngoại thường, độc
nhất vô nhị trong lịch sử tư tưởng loài người. Các Kitô hữu thời đầu thường ngạc nhiên trước
sự kiện này là ngay một đứa trẻ học hỏi về những chân lý đức tin cách sơ sài cũng có được
những câu trả lời sâu sắc và xác đáng trước những vấn đề lớn thách đố tâm trí con người, còn
hơn cả những triết gia Hy lạp. Những tìm tòi của trí tuệ liên quan đến cái xấu, đau khổ của con
người, sự chết, tự do, ý nghĩa cuộc sống, và sự thiện hảo của thế giới, đã có được những câu
trả lời đầy đủ và triệt để nhờ đức tin Kitô giáo.
Nhờ những công trình của các Giáo phụ và Tiến sĩ Giáo hội, đã có tiến bộ không chỉ
trong Thần học Kitô giáo, nhưng còn trong lối hiểu triết học về những chân lý tự nhiên đã được
mặc khải. Sự khai triển này về sau được gọi là Triết học Kitô giáo: gọi là “Kitô giáo” không
phải nhờ vào nội dung nội tại của nó cũng như cách thức chứng minh hợp lý vốn nằm ẩn trong
phạm vi tự nhiên, nhưng đúng hơn là vì nó đã được khai triển dưới sự khởi hứng và dẫn dắt
của đức tin Kitô giáo3.
Sự kiện các chân lý tự nhiên mà Siêu hình học nghiên cứu, đã được mặc khải, không hề
khiến cho Siêu hình học là dư thừa trong tư cách một khoa học. Trái lại, điều đó càng thôi thúc
Siêu hình học nhận biết sâu sắc hơn các chân lý đó, vì Thiên Chúa mặc khải các chân lý đó cốt
để cho con người khám phá chúng sâu xa hơn nữa nhờ trí tuệ con người, và nhận được sự bồi
dưỡng trí thức nhờ các chân lý đó.
Triết học phục vụ Đức tin
Như Lý trí phục vụ Đức tin, thì Siêu hình học cũng được dùng như một công cụ khoa
học của Thần học. Một khi Siêu hình học đã được hoàn bị hóa nhờ sự hướng dẫn bởi Đức tin,
thì nó lại trở thành một công cụ có giá trị để có thể hiểu tốt hơn nữa những mầu nhiệm siêu
nhiên kiến tạo nên nội dung của khoa Thần học.
a) Tri thức thuộc lãnh vực siêu nhiên giả thiết tri thức thuộc lãnh vực tự nhiên. Lý do là
vì ân sủng không thay thế tự nhiên, nhưng nâng cao tự nhiên. Chẳng hạn chính việc nghiên cứu
ân sủng và những nhân đức phú bẩm, đòi ta phải biết rằng linh hồn con người là thiêng liêng,
tự yếu tính là tự do và hướng về Thiên Chúa, Đấng là cùng đích của con người. Trong Kitô
học, khi nói rằng Đức Giêsu Kitô là “người thật”, thì cũng đòi ta phải hiểu cho đúng thế nào là
bản chất con người. Nếu hiểu tội lỗi về mặt thần học, ta cần phải biết đến những năng lực của
con người, đặc biệt là ý chí và những đam mê, và phải có một tri thức đúng mức về bản chất
điều thiện hảo và cái xấu. Sau cùng, đối với việc nghiên cứu Chúa Ba Ngôi và mầu nhiệm
Nhập Thể, tri thức của ta về khái niệm bản tính và ngôi vị là điều kiện cần thiết. (Nơi Thiên
Chúa, có ba ngôi vị Thiên Chúa với một bản tính Thiên Chúa; Đức Giêsu Kitô là một Ngôi Vị
– Ngôi Vị Thiên Chúa trong hai bản tính, bản tính Thiên Chúa và bản tính nhân loại). Hơn nữa,
thật khó mà có được một tri thức đúng mức về những chân lý được Thiên Chúa mặc khải, nếu
như trước đó không có một tri thức tự nhiên sâu sắc.
b) Một khi coi nhẹ tri thức siêu hình, Thần học sẽ không đạt đến tầm mức một khoa
học, và rơi vào sai lầm cũng như hàm hồ. Một tri thức chỉ được coi là có tính khoa học khi
nội dung của nó được diễn tả một cách có trật tự, căn cơ và chính xác, điều đó tạo nên một
toàn khối gắn bó. Vì phải sử dụng đến tri thức tự nhiên về thực tại, nên Thần học trở nên một
khoa học một khi tri thức đó tiên vàn được phong phú hóa bởi một khoa học dụng cụ, mà trong
trường hợp này, chính là Siêu hình học. Siêu hình học đem lại một sự chính xác cần thiết để
hiểu được ý nghĩa những thuật ngữ đến từ tri thức tự phát. Hơn nữa, những lối giải thích sai
lầm về tín điều trong dòng lịch sử đã buộc Thần học phải đi tìm sự chính xác về thuật ngữ và
khái niệm từ quan điểm Siêu hình học. Do đó, không thể nào bỏ qua những gì có được nhờ nỗ
lực trên, mà lại không gặp nguy cơ rơi vào cũng những sai lầm trước đó. Ví dụ, những thuật
ngữ như “biến đổi bản thể” (transubstantiation), “ngôi hiệp” (hypostatic union), và “chất liệu
và hình thế của bí tích” (matter and form of the sacraments), thì không thể được thay thế dễ
dàng, vì chúng diễn tả rõ ràng ý nghĩa xác thực của Đức tin, nhờ đó mà có thể tránh được
những sai lầm về mặt Đức tin.
Ngoài ra, Siêu hình học là cần thiết để hiểu được những lối diễn tả tín điều được huấn
quyền Giáo hội đề nghị. Thánh Giáo hoàng Piô X, trong thông điệp Doctoris Angelici (ngày 29
tháng 6 năm 1914) đã nói: “Nếu những nguyên lý đó (khoa Siêu hình học của thánh Thomas
Aquinas) mà bị loại bỏ hay bị méo mó, thì nhất thiết dẫn đến hậu quả là những ai nghiên cứu
các thánh khoa sẽ khó nắm bắt được ý nghĩa những ngôn từ đã được huấn quyền Giáo hội sử
dụng để diễn tả những tín điều đã được Thiên Chúa mặc khải. Do đó, chúng tôi ước mong rằng
mọi giáo sư triết học và thần học nên cảnh giác rằng nếu không đi theo bước đường của thánh
Thomas, nhất là trong những vấn đề siêu hình, ắt sẽ gây ra những thiệt hại nặng nề”.
Sau cùng, chúng ta cũng phải ghi nhớ rằng những kinh Tin Kính sử dụng rất nhiều thuật
ngữ chính xác, những thuật ngữ đó chỉ có thể hiểu được tốt hơn nhờ sự trợ giúp của tri thức
Siêu hình học xét như dụng cụ.
SÁCH ĐỌC THÊM
PLATO, Republic, V. 474b ff; VII, 514a ff. ARISTOTLE, Metaphysica, I, ch. 1-2; II, 1;
VI, 1; XI, 3. SAINT THOMAS AQUINAS, In Metaph., Prooem; I, lect. 2; II, 2; III, 4-6; IV,
1,4 and 5; VI, 1; XI, 1, 3 and 7; In Boeth. De Trinitate, lect. 2, q.1. L. DE RAEYMAEKER,
Filosofia del ser, Gredos, Madrid 1968.
CHƯƠNG II: HỮU THỂ - KHỞI ĐIỂM CỦA SIÊU
HÌNH HỌC
Trước khi đề cập đến những chủ đề khác, chúng ta cần có một cái nhìn khái quát sơ khởi
về một số khái niệm siêu hình nền tảng, như hữu thể, việc hiện hữu, yếu tính, tồn tại. Vì hữu thể
là đối tượng của Siêu hình học, cho nên mọi vấn đề cần phải được giải quyết căn cứ vào ý
nghĩa hữu thể. Do đó tiên vàn ta phải am tường về ý nghĩa hữu thể.
1. KHÁI NIỆM HỮU THỂ
Hữu thể là “cái hiện hữu” (Being is that which is = Ens est “id quod est”). Không thể
định nghĩa hữu thể theo nghĩa chặt được, vì một định nghĩa cần đến những khái niệm bao quát
hơn. Ví dụ, một chiếc xe hơi có thể được định nghĩa là một cỗ xe có gắn môtơ dùng để chuyên
chở. Nhưng để định nghĩa hữu thể, người ta cần đến một khái niệm tổng quát hơn bao gồm
được hữu thể. Tuy nhiên, không thể có được khái niệm nào theo kiểu đó, vì hữu thể bao trùm
mọi thực tại. Do đó ta chỉ có thể giải thích hữu thể là “cái hiện hữu”, “cái tồn tại”, hoặc
“cái có thực” (that which is real). Chẳng hạn một con người, một con chim, một chiếc máy
bay, tất cả đều là hữu thể.
Nói chặt chẽ, thuật ngữ hữu thể không có cùng ý nghĩa với thuật ngữ sự vật (thing).
(Being phát sinh từ động từ “to be” (esse).
Khái niệm hữu thể không phải là một khái niệm “đơn thuần”; nó hàm ý việc kết hợp
giữa một chủ thể (a subj...
Ebook miễn phí tại : www.SachMoi.net
(TOMAS ALVIRA
- LUIS CLAVELL - TOMAS MELENDO)
Nguyên tác (tiếng Tây Ban Nha): METAFISICA do Tomas Alvira, Luis Clavell, Tomas
Melendo 1981
Bản tiếng Anh METAPHYSICS do Fr. Luis Supan 1991
Bản tiếng Việt SIÊU HÌNH HỌC (dịch từ bản tiếng Anh) do Fr. Đỗ Ngọc Bảo, O.P 2008
LỜI NÓI ĐẦU
Trong hai thập niên gần đây, một số lượng lớn những tác phẩm triết học đã ấn hành đều là
những chuyên khảo và những khảo luận, mà tốt nhất nên coi như sách sử ký và phân loại. Kèm
theo hiện tượng này là chuyện suy giảm việc ấn hành và sử dụng những tác phẩm triết học có
tầm mức tổng quát hơn, ví dụ những sách giáo khoa. Điều này có thể là do những thay đổi thị
hiếu của độc giả đương đại – giờ đây dường như họ cần được thoát khỏi lối tiếp cận hệ thống
quá mức và học thuật quá cao của nhiều sách giáo khoa triết học.
Mặt khác, khuynh hướng muốn chuyên hóa và muốn thủ đắc lối hiểu mang đậm tính lịch
sử cũng như suy tư về các vấn đề triết học đã khiến chúng ta lơ là với một công tác quan trọng,
đó là cung ứng cho những ai muốn đi vào lãnh vực triết học một kiến thức cơ bản có thể được
dùng như nền tảng cho một sự hấp thụ phúc lợi nhiều nghiên cứu chuyên sâu.
Quyển sách này là một bản giáo khoa về triết học cơ bản, đó là Siêu hình học – khoa học
về hữu thể, như vẫn luôn được hiểu kể từ thời Permenides, Plato, Aristotle, và Thánh Thomas
Aquinas cho đến ngày nay. Siêu hình học đặc biệt có giá trị trong thời chúng ta như triết học
khai mở đến sự siêu việt của hữu thể sau nhiều thế kỷ bị hạn chế do chủ quan. Những nghiên
cứu đương đại về hiện tượng luận, hiện sinh, và triết học phân tích, thêm một lần nữa đã làm
dấy lên những vấn đề liên quan đến hữu thể.
Mục tiêu của chúng tôi là trình bày cho độc giả những nguyên tắc siêu hình một cách sáng
tỏ và thứ tự. Do đó, độc giả có thể giải quyết những vấn đề triết học nóng bỏng mà con người
thời đại chúng ta phải đối mặt.
T. ALVIRA
- L. CLAVELL - T. MELENDO
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
03
DẪN NHẬP
05
I. BẢN CHẤT SIÊU HÌNH HỌC
06
1.
2.
3.
4.
1.
2.
3.
4.
5.
6.
1.
2.
3.
4.
5.
6.
1.
2.
3.
4.
1.
2.
3.
4.
1.
2.
Khái niệm Siêu hình học
Siêu hình học như Khoa học về Hữu thể xét như Hữu thể
Siêu hình học và Tri thức Nhân loại
Siêu hình học Liên quan thế nào đến Đức tin và Thần học
07
08
13
16
II. HỮU THỂ – KHỞI ĐIỂM CỦA SIÊU HÌNH HỌC
22
Khái niệm Hữu thể
Yếu tính – Cách thức Hiện hữu của Sự vật
Việc Hiện hữu (Esse)
Việc Hiện hữu xét như Hiện thế Mãnh liệt nhất
Ý nghĩa của Esse như động từ nối trong một câu
Các đặc tính của khái niệm hữu thể
22
24
25
29
34
36
III. NGUYÊN LÝ BẤT-MÂU THUẪN
45
Nguyên lý Đầu tiên về Hữu thể
Những Đường lối Diễn tả Nguyên lý Bất- Mâu thuẫn
Tri thức Qui nạp về Nguyên lý Đầu tiên
Sự Hiển nhiên của Nguyên lý này và lối Bảo vệ nó nhờ luận chứng
“Đối Nhân”
Vai trò của Nguyên lý Đầu tiên trong Siêu hình học
Những Nguyên lý Sơ yếu khác đặt cơ sở trên Nguyên lý Bất-Mâu
thuẫn
46
47
49
50
54
56
PHẦN I:CẤU TRÚC SIÊU HÌNH CỦA HỮU THỂ
59
I. BẢN THỂ VÀ PHỤ THỂ
60
Bản chất Bản thể và các Phụ thể
Việc Hiện hữu thuộc về Bản thể
Phức hợp Bản thể và Phụ thể
Tri thức của ta về Bản thể và Phụ thể
60
68
70
76
II. CÁC PHẠM TRÙ
80
Khái niệm về các Phạm trù
Phân loại chín giống tối cao
Phẩm chất
Tương quan
80
82
87
92
III. CẤU TRÚC HIỆN THẾ – TIỀM NĂNG CỦA HỮU THỂ
102
Khái niệm về Hiện thế và Tiềm năng
Những loại Hiện thế và Tiềm năng
102
109
3.
4.
5.
6.
1.
2.
3.
1.
2.
3.
4.
1.
2.
3.
4.
1.
2.
3.
4.
1.
2.
3.
4.
1.
2.
Tính Ưu tiên của Hiện thế
Tương quan giữa Hiện thế và Tiềm năng xét như những nguyên lý
cấu tạo của Hữu thể
Viễn tượng Siêu hình học về Hiện thế và Tiềm năng
Phạm vi siêu hình của hiện thế và tiềm năng
113
117
121
123
IV. YẾU TÍNH CỦA MỘT HỮU THỂ
125
Yếu tính: cách thức hiện hữu của một bản thể
Yếu tính của những hữu thể vật chất
Yếu tính của những bản thể thiêng liêng
V. NGUYÊN LÝ CÁ VẬT HÓA
Yếu tính của những hữu thể chỉ tồn tại nơi mỗi cá thể
Việc tăng bội yếu tính nơi những cá vật
Việc đơn lẻ hóa yếu tính
Việc cá vật hóa các phụ thể và các bản thể thiêng liêng
126
129
136
138
138
140
142
146
VI. ESSE: HIỆN THẾ TỐI HẬU CỦA MỘT BẢN THỂ
149
Việc Hiện hữu là nền tảng tối hậu của mọi thực tại
“ESSE” và Yếu tính phân biệt nhau thực sự
Phức hợp “Yếu tính – Hiện hữu” là cấu trúc cơ bản của những vật
thụ tạo
ESSE, xét như Hiện thế, là trọng tâm của Siêu hình học Thomas
149
153
159
161
VII. CHỦ THỂ HIỆN HỮU ĐỘC LẬP
165
Khái niệm về Chủ thể Hiện hữu Độc lập
Phân biệt giữa Bản chất và Suppositum
Việc Hiện hữu thuộc về Suppositum
Ngôi vị
166
170
172
175
PHẦN II. CÁC SIÊU NGHIỆM
181
I. NHỮNG KHÍA CẠNH SIÊU NGHIỆM CỦA HỮU THỂ
182
Khái niệm Siêu nghiệm và các Phạm trù
Những khía cạnh Siêu nghiệm của Hữu thể
Hữu thể: nền tảng của những đặc điểm Siêu nghiệm
Hữu thể và những đặc điểm của nó đều mang tính loại suy
183
187
192
196
II. TÍNH ĐƠN NHẤT CỦA HỮU THỂ
200
Tính Đơn nhất Siêu nghiệm
Những thể loại và những cấp độ của tính Đơn nhất
200
204
3.
4.
5.
1.
2.
3.
1.
2.
3.
1.
2.
3.
4.
1.
2.
Tính Đa bội
Những khái niệm nảy sinh từ tính Đơn nhất, và những khái niệm đối
lập với tính Đơn nhất
1.
2.
3.
211
Aliquid (“another” or “something”)
213
III. CHÂN LÝ
215
Hữu thể và Chân lý
Chân lý là đặc điểm siêu nghiệm của Hữu thể
Chân lý nơi trí năng con người
215
216
221
IV. THIỆN HẢO
224
Bản chất của Thiện hảo
Thiện hảo và Hoàn bị
Thiện hảo và Giá trị
224
229
233
V. CÁI ĐẸP
236
Bản chất Cái Đẹp
Vẻ đẹp và Hoàn bị
Những cấp độ của Vẻ Đẹp
Con người Tri giác Vẻ Đẹp
236
240
242
245
PHẦN III. CĂN NGUYÊN TÍNH
248
I. NHẬN THỨC VỀ TÍNH NHÂN QUẢ ĐÍCH THỰC
249
Kinh nghiệm về tính Nhân quả
Nguyên lý Nhân quả
250
254
II. BẢN CHẤT CỦA CĂN NGUYÊN TÍNH VÀ CÁC LOẠI
CĂN NGUYÊN
1.
2.
3.
207
Bản chất của Căn nguyên tính
Căn nguyên, Nguyên lý, Điều kiện và Cơ hội
Những loại Căn nguyên tính
264
264
266
269
III. CĂN NGUYÊN CHẤT LIỆU VÀ CĂN NGUYÊN HÌNH
THẾ
276
Bản chất Căn nguyên Chất liệu
Căn nguyên Hình thế
Tương quan giữa Căn nguyên Chất liệu và Căn nguyên Hình thế
277
281
284
IV. NHỮNG CĂN NGUYÊN TÁC THÀNH
289
1.
2.
1.
2.
3.
Bản chất Căn nguyên Tác thành
Những loại Căn nguyên Tác thành
V.HOẠT ĐỘNG XÉT NHƯ HIỆN THẾ CỦA CĂN NGUYÊN
TÍNH TÁC THÀNH
304
Bản chất của Hoạt động
Nền tảng của Hoạt động
Những năng lực tác động xét như những nguyên lý gần cho hoạt
động
306
310
1.
2.
3.
4.
312
VI. CĂN NGUYÊN CỨU CÁNH
317
Bản chất Căn nguyên Cứu cánh
Những loại Căn nguyên Cứu cánh
Nguyên lý về Cứu cánh tính
Mục đích là Căn nguyên cho những căn nguyên khác
318
320
324
332
VII.Căn nguyên tính nơi Thiên Chúa&Căn nguyên tính nơi Thụ
tạo
1.
2.
3.
290
293
Những giới hạn nơi Căn nguyên tính Thụ tạo
Những đặc trưng của Căn nguyên tính nơi Căn nguyên Đệ nhất
Tương quan giữa Căn nguyên Đệ nhất và những Căn nguyên Đệ nhị
338
339
348
352
DẪN NHẬP
CHƯƠNG I: BẢN CHẤT SIÊU HÌNH HỌC
Con người luôn ngạc nhiên về nguồn gốc vũ trụ. Con người làm việc liên tục, đi tìm một
sự giải thích về vũ trụ – một thứ giải thích gọi được là tối hậu và phổ quát, hoặc bao trùm
tất cả. Qua dòng lịch sử, đã khai sinh nhiều trường phái. Một số trường phái coi nền tảng cơ
bản của thực tại chính là một yếu tố đặc thù gắn liền với thực tại đó, ví dụ vật chất, tinh thần,
tư tưởng hay chuyển động, và như vậy cũng có nghĩa rằng mọi sự trong vũ trụ đều nảy sinh từ
yếu tố đó. Số khác lại thừa nhận sự hiện hữu của một Nguyên Lý siêu việt, vốn làm nên vũ trụ
mà không phải là thành phần của vũ trụ. Một số nhà tư tưởng lại đề cập đến sự hiện diện của
một nguồn gốc vũ trụ, đang khi những người khác lại cho rằng vũ trụ đến từ hai hoặc nhiều
nguồn.
Những vấn đề trên không thuần túy là suy lý; trái lại, chúng ảnh hưởng rất nhiều lên đời
sống con người. Vì đương nhiên có sự khác biệt giữa một bên là người tin rằng mọi sự – kể cả
chính anh ta – phát sinh từ vật chất ù lì và quay về với vật chất – và bên kia là người tin rằng
mình được Thiên Chúa tạo dựng, Ngài đưa anh ta từ hư vô sang hiện hữu.
Khởi đầu, việc nghiên cứu những vấn đề trên tạo nên một bộ tri thức gọi là triết lý, minh
triết, hoặc khoa học. Sau này, để tránh lẫn lộn với nhiều khoa học đặc thù khác, khoa học nói
trên được gọi là Siêu hình học.
1. KHÁI NIỆM SIÊU HÌNH HỌC
Ta có thể định nghĩa Siêu hình học là việc nghiên cứu căn nguyên tối hậu, những nguyên lý
đầu tiên và phổ quát nhất của thực tại.
a. Căn nguyên tối hậu khác biệt với những căn nguyên gần. Ví dụ, việc tăng áp suất
không khí là căn nguyên cho việc thay đổi khí hậu; quả tim là cơ quan khiến cho máu lưu thông.
Việc nghiên cứu những căn nguyên nói trên thuộc về những khoa học đặc thù. Trái lại, những
căn nguyên tối hậu có ảnh hưởng trên một khung cảnh, ví dụ như một nhà lãnh đạo chính trị ảnh
hưởng lên toàn thể đất nước của ông, hay ước muốn của một con người đi tìm hạnh phúc đối
với toàn thể hoạt động nhân linh của anh ta. Khoa Siêu hình học xét đến căn nguyên tối hậu
tuyệt đối của vũ trụ. Nó cố gắng tìm ra căn nguyên đó, nghiên cứu về bản chất và hoạt động
của căn nguyên nói trên, và vì Thiên Chúa là căn nguyên tối hậu của mọi sự, nên hiển nhiên
Ngài cũng là chủ đề chính yếu của Siêu hình học.
b. Siêu hình học cũng nghiên cứu những nguyên lý đầu tiên và phổ quát nhất của thực
tại. Bên cạnh những căn nguyên ảnh hưởng lên những hiệu quả của chúng ở bên ngoài, còn có
những yếu tố nội tại nơi chính các hiệu quả, kiến tạo nên chúng và ảnh hưởng đến cách thức
hiện hữu và hoạt động của chúng. Các yếu tố đó thường được gọi là các nguyên lý; chẳng hạn,
những nguyên tử là các nguyên lý nhất định cho phân tử, xác định bản chất và những đặc điểm
của các phân tử; nơi các sinh thể, các tế bào hoạt động như những nguyên lý cho cơ thể. Nhưng
Siêu hình học đi tìm những nguyên lý đầu tiên và phổ quát nhất, tức là những nguyên lý mà về
cơ bản tạo nên mọi sự. Bất cứ ai xét một điều gì như nguyên lý nội tại đầu tiên của mọi sự,
người đó đã đề cập đến lãnh vực siêu hình.
2. SIÊU HÌNH HỌC NHƯ KHOA HỌC VỀ HỮU THỂ XÉT NHƯ HỮU THỂ
Mỗi khoa học đều có đối tượng nghiên cứu riêng vốn là một khía cạnh của thực tại mà nó
lưu ý đến. Chẳng hạn, sinh vật học nghiên cứu thế giới các sinh thể, toán học nghiên cứu những
khía cạnh lượng tính của sự vật.
Ta cần phân biệt đối tượng chất liệu (material object) với đối tượng hình thế (formal
object) của một khoa học; điều trước được coi là “chủ đề” của một khoa học vì nó là tổng số
những gì được nghiên cứu, đang khi điều sau là khía cạnh của đối tượng chất liệu mà khoa học
chú ý đến. Chẳng hạn đối tượng chất liệu của sinh học là tất cả mọi sinh thể, nhưng đối tượng
hình thế của nó lại giới hạn đối tượng nghiên cứu, vì khoa học này chỉ diễn tiến việc nghiên
cứu từ khởi điểm là sự sống. Tương tự thế, đối tượng chất liệu của y học là cơ thể con người,
nhưng đối tượng hình thế của nó là cơ thể con người trong mức độ đó là chủ thể của sức khỏe
hoặc bệnh tật.
Siêu hình học nghiên cứu hữu thể xét như hữu thể,
những đặc điểm và căn nguyên của hữu thể
Các khoa học đặc thù có đối tượng nghiên cứu là một số khía cạnh chuyên biệt của
thực tại. Tuy nhiên, cần có một khoa học nào khác nghiên cứu toàn bộ thực tại bằng cách chú
trọng đến khía cạnh chung nhất của mọi sự: đó là, mọi sự đều “hiện hữu”, nó là “thực”. Khía
cạnh chung đó được giả thiết bởi bất cứ loại tri giác đặc thù nào. Chẳng hạn khi một nhà thực
vật học nghiên cứu và xếp loại các loài, ông ta biết rằng “có những cây”, biết rằng chúng là
“những hữu thể”; khái niệm hữu thể hiện đến trước bất cứ khái niệm về một loài thực vật nào.
Ta cần giải thích việc đó như sau:
i) Hữu thể: đây là một thuật ngữ siêu hình tương đương với điều được gọi là “sự vật”
(thing) trong ngôn ngữ thông thường. Hữu thể ám chỉ “thứ gì có”, hay một điều gì đó có việc
hiện hữu (hiện thế hiện hữu = act of being). Một cây là một hữu thể, giống như một con chim,
một người, một viên kim cương đều là hữu thể; nhưng đang khi từ ngữ “con chim” nói đến một
bản chất đặc thù hay một cách thức hiện hữu, thì hữu thể lại diễn tả sự kiện là có con chim
(Ens, L.t – Being).
ii) Xét như hữu thể: trong cuốn giải thích sách Siêu hình học của Aristotle, Thánh
Thomas Aquinas đã nói: “Những khoa học khác, vốn liên hệ đến những hữu thể đặc thù, cũng
xét đến hữu thể (vì mọi đối tượng nghiên cứu của các khoa học cũng đều là hữu thể); tuy nhiên,
chúng không nghiên cứu hữu thể xét như hữu thể, mà chỉ như một loại hữu thể đặc thù nào đó,
ví dụ, con số hay hàng kẻ, ngọn lửa hay thứ gì tương tự1. Vì thế, có thể nói rằng đối tượng chất
liệu (đối tượng chung) của Siêu hình học là thực tại trong toàn tính của nó, vì mọi sự vật,
bất kể bản tính ra sao – đều là hữu thể. Mặt khác, đối tượng hình thế (đối tượng riêng) của nó
là “hữu thể xét như hữu thể” (being as being) hoặc “hữu thể xét nguyên nó là thế” (being
as such). Nói rằng đối tượng chất liệu của Siêu hình học bao gồm tất cả thực tại, không có
nghĩa rằng Siêu hình học là tổng số các khoa học đặc thù khác biệt nhau. Đó cũng không phải
là sự tổng hợp mọi khoa học đặc thù (như chủ trương của một số triết gia phái thực chứng
luận) (positivist philosophers). Siêu hình học là một khoa học riêng biệt, vì nó nghiên cứu một
khía cạnh đặc thù của thực tại phù hợp với Siêu hình học, đồng thời cũng được các khoa học
khác giả thiết – đó là sự hiện hữu của các sự vật.
iii) Đặc điểm và căn nguyên của hữu thể: Khi chọn đối tượng nghiên cứu, mỗi khoa học
phải nghiên cứu những đặc tính của đối tượng và tất cả những gì liên quan tới đối tượng bất cứ
cách nào. Đang khi môn vật lý nghiên cứu kết quả của những đặc điểm vật lý nơi vật thể, chẳng
hạn như khối lượng hoặc năng lượng của chúng, thì Siêu hình học nghiên cứu những đặc điểm
của hữu thể theo mức độ chúng là những hữu thể. Vậy công việc của Siêu hình học cũng còn là
khám phá những khía cạnh của hữu thể xét nguyên nó là thế (being as such) (ví dụ, “chân lý”),
cũng như những khía cạnh không thuộc về hữu thể xét như hữu thể (chẳng hạn “vật chất” hay
bản chất vật thể).
Hơn nữa, bất cứ khoa học nào cũng đều nghiên cứu một loại các sự vật riêng biệt và
những căn nguyên riêng của chúng, vì tri thức không thể hoàn bị trừ phi nắm bắt được những
căn nguyên. Do đó Siêu hình học phải nghiên cứu căn nguyên của mọi hữu thể trong mức độ
chúng là hữu thể: điều này là một trong những phạm vi chính của Siêu hình học khi nghiên cứu
đối tượng riêng của mình. Cũng như y khoa nghiên cứu những căn nguyên về sức khỏe thể lý
(ví dụ việc dinh dưỡng, khí hậu, vệ sinh), thì Siêu hình học dẫn chúng ta đến căn nguyên việc
hiện hữu nơi mọi sự vật – tức là Thượng Đế, xét như Đấng Tạo Hóa.
Một khi đã tiến bộ trong việc hiểu biết những vấn đề siêu hình khác nhau, chúng ta sẽ
càng thấy rõ là những đặc điểm cơ bản nhất của thế giới thực tế lệ thuộc vào chân lý nền tảng
này là mọi vật đều hiện hữu: rằng chúng là những hữu thể. Việc hiện hữu là đặc điểm nền
tảng nhất của mọi sự vật, vì mọi hoàn bị hay đặc tính của chúng, trước khi là một điều gì, thì
trước hết phải hiện hữu đã. Đây là điều kiện sơ yếu mà mọi vật đều phải lệ thuộc vào. Vì Siêu
hình học là khoa học đi tìm yếu tố căn bản nhất của thực tại, nên nhất thiết nó phải nhắm đến
việc hiện hữu như đối tượng nghiên cứu nền tảng của mình.
Một vài trường phái tư tưởng triết học đã chọn những khía cạnh khác của thực tại như
đối tượng của Siêu hình học. Chẳng hạn, “thuyết duy sinh” (vitalism) coi sự sống là đối tượng;
“thuyết hiện sinh” (existentialism) lại coi đó là cuộc hiện sinh của con người; “thuyết duy tâm”
(idealism) coi đó là tư tưởng con người; “thuyết duy sử” (historicism) lại coi đó là tiến bộ của
lịch sử. Kant chủ trương các điều kiện của tri thức khoa học như đối tượng triết học của ông
(“criticism”). Tuy nhiên, tất cả những triết gia này không bao giờ tránh khỏi được việc nghiên
cứu về hữu thể; điều họ làm là giới hạn hữu thể vào một đối tượng đặc thù và hạn chế nào
đó.
Nguồn gốc lịch sử của khoa học về hữu thể
Kể từ thời các triết gia đầu tiên, khoa học về hữu thể được hiểu như một tri thức phổ
quát có mục tiêu là khám phá những yếu tố sơ yếu (primary elements) của thực tại. Tuy nhiên,
yếu tố này luôn được đồng hóa với một yếu tố vật chất nào đó (như lửa, khí hoặc nước…), cho
đến khi Parmenides lần đầu tiên nói đến hữu thể như khía cạnh nền tảng của thực tại. Ông nói:
“hữu thể thì hiện hữu và vô thể thì không hiện hữu, đó là cách thức thuyết phục (vì nó đi theo
Chân Lý)” (Fr. II. V.3). Tuy không hoàn toàn coi thường học thuyết của Parmenides, các triết
gia về sau lại chú ý đến những khía cạnh triết lý khác. Tuy nhiên, khi Aristotle vào cuộc, thì
hữu thể đã ưu tiên trở thành đối tượng của khoa Siêu hình học.
Những danh hiệu gán cho khoa Siêu hình học
Siêu hình học được gán nhiều danh xưng, tùy theo những khía cạnh mà người ta muốn
nhấn mạnh. Aristotle gọi đó là Đệ nhất Triết học, vì nó nghiên cứu những căn nguyên và
nguyên lý đầu tiên của thực tại. Danh xưng này diễn tả xác đáng địa vị trung tâm của Siêu hình
học trong triết học, và nó cũng khiến cho Siêu hình học khác biệt với những ngành tri thức khác
mà Aristotle gọi là Đệ nhị Triết học. Siêu hình học là “đệ nhất” không phải vì nó có sớm về
mặt biên niên. Nó là đệ nhất bởi vì có tính ưu tiên đương nhiên trong triết học xét như toàn
khối, và trong tương quan với những khoa học khác.
Danh xưng bên ngôn ngữ Tây phương “Metaphysics” (mà cứ chữ có nghĩa là “vượt quá
Vật lý (Physics)” đã được Andronicus người xứ Rhodes ghép vào để nói đến những tác phẩm
của Aristotle về “Đệ nhất Triết học”, vì nó được xếp sau cuốn sách của Aristotle về vật lý.
Danh xưng đó đã diễn tả đúng mức bản chất của khoa học này, vì nó vượt qua khung cảnh thực
tại vật chất được nghiên cứu trong khoa vật lý.
Sang thế kỷ XVII, Christian Wolff gọi môn học này là Ontology (Hữu thể luận), một
thuật ngữ phát nguyên từ tiếng Hy lạp có nghĩa là “việc nghiên cứu về hữu thể”. Các triết gia
duy lý ưa dùng thuật ngữ “Hữu thể luận” thay vì “Siêu hình học”. Dẫu sao, “Hữu thể luận”
cũng diễn tả cùng một đối tượng của Siêu hình học.
3. SIÊU HÌNH HỌC VÀ TRI THỨC NHÂN LOẠI
Siêu hình học và tri thức tự phát
Mọi người đều có một tri thức tổng quát về thực tại, thủ đắc nhờ ánh sáng lý trí tự
nhiên. Họ biết mình muốn nói gì khi đề cập đến “hữu thể”, “chân lý”, hay “thiện hảo”. Họ có
một tri thức nào đó về bản chất con người, và về khác biệt giữa những thực tại “bản thể” và
“phụ thể”. Hơn thế nữa, mọi người còn có thể nhận biết Thượng Đế là Đệ nhất Căn nguyên của
vũ trụ, Đấng gìn giữ và hướng dẫn vạn sự đi đến cùng đích. Chúng ta gọi loại tri thức này là tri
thức tự phát, cũng liên quan tới những đề tài được nghiên cứu bởi Siêu hình học. Điều này
không có gì phải ngạc nhiên, vì con người tự nhiên có khuynh hướng tìm hiểu về vũ trụ, về vai
trò của mình trong vũ trụ, nguồn gốc vũ trụ vv… Do đó, ta cũng dễ hiểu tại sao loại tri thức
này được gọi là Siêu hình học tự phát hoặc Siêu hình học tự nhiên của trí tuệ con người2. Tuy
nhiên, điều này không xóa bỏ nhu cầu về một khoa Siêu hình học được khai triển thành một
khoa học, bởi nhiều lý do: vì tri thức tự phát thì thường không hoàn bị và thiếu chính xác; vì có
lẽ nó không đủ chắc chắn và sáng tỏ trong một số khía cạnh; sau cùng, vì nó chịu ảnh hưởng
bởi các ý thức hệ ưu thắng trong một số khung cảnh văn hóa, hoặc được nhiều người chấp
nhận.
Ngoài ra, cần ghi nhận rằng những xác tín luân lý của mỗi con người đều có ảnh hưởng
quyết định đến tri thức của người đó về các vấn đề Siêu hình học. Kinh nghiệm cho thấy
rằng, một khi những cá nhân mất đi sự chín chắn về mặt luân lý, thì họ cũng mất luôn những xác
tín trí thức nền tảng, do đó rơi vào thái độ hoài nghi trước chân lý. Chẳng hạn, họ bị dẫn đến
thuyết vô tri liên quan đến tri thức mà người ta có về Thượng Đế, và bị dẫn đến thuyết tương
đối liên quan đến những đòi hỏi của luật luân lý. Rốt cuộc, con người tự tôn mình như trung
tâm của toàn thể vũ trụ. Đây chính là lý do tiềm ẩn đằng sau một số hệ thống triết học đối
nghịch triệt để với chân lý, chẳng hạn thuyết Mác xít, thuyết vô tri, và thuyết duy tâm: những
thuyết trên đều là những cơ cấu lý thuyết xây dựng trên một số thái độ cơ bản sai lạc đối với
cuộc sống con người. Vì là một khoa học, Siêu hình học phần nào chịu ảnh hưởng bởi đời sống
luân lý của các triết gia trong cuộc. Ảnh hưởng này càng rõ ràng trong những điểm chính mà
các vấn đề kỹ thuật chuyên môn hơn tùy thuộc vào.
Vai trò dẫn dắt của Siêu hình học đối với các khoa học khác
Vì Siêu hình học bàn đến những vấn đề hết sức nền tảng của tri thức nhân loại, và vì
đối tượng nghiên cứu của nó bao trùm lên toàn thể thực tại, nên đương nhiên các khoa học đặc
thù, một cách nào đó, đều tùy thuộc vào Siêu hình học. Đối tượng nghiên cứu của mỗi khoa học
đặc thù là một loại hữu thể đặc thù. Chính vì thế mà những nguyên lý siêu hình, những đặc
điểm của hữu thể, và một số khái niệm nền tảng khác về thực tại cũng được phản ảnh cách nào
đó trong khu vực nghiên cứu chuyên biệt của một khoa học đặc thù. Những nguyên lý đó được
các khoa học đặc thù tiếp nhận và, dù không hiển nhiên được chúng khám phá, vẫn được các
khoa học đó sử dụng khi cần thiết. Ví dụ, khi các nhà vật lý tiến hành thí nghiệm về năng lực
của vật thể trong hoạt động lý hóa của chúng, họ đã sử dụng đến nguyên lý nhân quả, với tất cả
những hàm ý của nguyên lý đó.
Trong nỗ lực tìm hiểu thấu đáo đối tượng nghiên cứu của mình, các nhà khoa học thực
nghiệm thường quay về với các vấn đề triết học. Do đó ta không ngạc nhiên khi thấy một số
nhà vật lý đương đại, như Heisenberg, Einstein, Planck, De Broglie, Bohr, và Schrodinger,
cũng đã viết những thiên khảo luận về các đề tài Siêu hình học. Toan tính của những khoa học
đặc thù muốn đạt sự độc lập tuyệt đối khỏi bất cứ tri thức siêu hình nào (đây là hậu quả của
thuyết thực chứng) sẽ không bao giờ đạt được hoàn toàn.
Như vậy có thể thấy rằng Siêu hình học giữ một vai trò dẫn dắt so với các khoa học đặc
thù khác, vì nó là đỉnh điểm của tri thức nhân loại trong lãnh vực tự nhiên. Vai trò này được
gọi đúng đắn là minh triết (sapiential), vì khôn ngoan (wisdom) có vai trò riêng là điều khiển
tri thức và hoạt động của con người nhờ vào những nguyên lý đầu tiên và mục đích tối hậu của
con người.
4. SIÊU HÌNH HỌC LIÊN QUAN THẾ NÀO ĐẾN ĐỨC TIN VÀ THẦN HỌC
Vượt ra ngoài và bên trên tri thức tự phát cũng như tri thức khoa học, còn có một thứ tri
thức thuộc lãnh vực siêu nhiên. Tri thức này phát sinh từ Mặc Khải của Thiên Chúa. Đây là
loại tri thức cao siêu, vì nó hoàn bị hóa mọi tri thức của nhân loại, hướng dẫn tri thức nhân
loại đến mục tiêu siêu nhiên của con người.
Đức tin hỗ trợ Triết học
Một số chân lý siêu hình, cho dù có thể được con người nhận biết cách tự nhiên, vẫn
được Thiên Chúa mặc khải. Bên cạnh việc bày tỏ những mầu nhiệm siêu nhiên cho con
người, mặc khải của Thiên Chúa cũng còn cho con người nhận biết được những chân lý chủ
lực tối hậu về vũ trụ, về con người, và về chính Thiên Chúa – những chân lý kiến tạo nên đối
tượng nghiên cứu của Siêu hình học. Vì mắc tội nguyên tổ, con người thật khó mà biết được
những chân lý trên là hết sức cần thiết cho đời sống luân lý – với một sự chắc chắn tuyệt đối,
không chút sai lầm. Vì thế, Thiên Chúa đã mặc khải cho con người những chân lý như : tạo
dựng mọi sự từ hư vô (ex nihilo), Thiên Chúa quan phòng, tính thiêng liêng và bất tử của
linh hồn con người, sự hiện hữu và bản chất của một Thiên Chúa chân thật, luật luân lý và mục
đích vĩnh cửu của con người, và thậm chí cả danh xưng riêng biệt của Thiên Chúa như Đấng
Hằng Hữu (God as the Subsisting Act of Being: “I am who am”).
Với sự trợ giúp của Mặc Khải, Siêu hình học có được cú nhảy vọt ngoại thường, độc
nhất vô nhị trong lịch sử tư tưởng loài người. Các Kitô hữu thời đầu thường ngạc nhiên trước
sự kiện này là ngay một đứa trẻ học hỏi về những chân lý đức tin cách sơ sài cũng có được
những câu trả lời sâu sắc và xác đáng trước những vấn đề lớn thách đố tâm trí con người, còn
hơn cả những triết gia Hy lạp. Những tìm tòi của trí tuệ liên quan đến cái xấu, đau khổ của con
người, sự chết, tự do, ý nghĩa cuộc sống, và sự thiện hảo của thế giới, đã có được những câu
trả lời đầy đủ và triệt để nhờ đức tin Kitô giáo.
Nhờ những công trình của các Giáo phụ và Tiến sĩ Giáo hội, đã có tiến bộ không chỉ
trong Thần học Kitô giáo, nhưng còn trong lối hiểu triết học về những chân lý tự nhiên đã được
mặc khải. Sự khai triển này về sau được gọi là Triết học Kitô giáo: gọi là “Kitô giáo” không
phải nhờ vào nội dung nội tại của nó cũng như cách thức chứng minh hợp lý vốn nằm ẩn trong
phạm vi tự nhiên, nhưng đúng hơn là vì nó đã được khai triển dưới sự khởi hứng và dẫn dắt
của đức tin Kitô giáo3.
Sự kiện các chân lý tự nhiên mà Siêu hình học nghiên cứu, đã được mặc khải, không hề
khiến cho Siêu hình học là dư thừa trong tư cách một khoa học. Trái lại, điều đó càng thôi thúc
Siêu hình học nhận biết sâu sắc hơn các chân lý đó, vì Thiên Chúa mặc khải các chân lý đó cốt
để cho con người khám phá chúng sâu xa hơn nữa nhờ trí tuệ con người, và nhận được sự bồi
dưỡng trí thức nhờ các chân lý đó.
Triết học phục vụ Đức tin
Như Lý trí phục vụ Đức tin, thì Siêu hình học cũng được dùng như một công cụ khoa
học của Thần học. Một khi Siêu hình học đã được hoàn bị hóa nhờ sự hướng dẫn bởi Đức tin,
thì nó lại trở thành một công cụ có giá trị để có thể hiểu tốt hơn nữa những mầu nhiệm siêu
nhiên kiến tạo nên nội dung của khoa Thần học.
a) Tri thức thuộc lãnh vực siêu nhiên giả thiết tri thức thuộc lãnh vực tự nhiên. Lý do là
vì ân sủng không thay thế tự nhiên, nhưng nâng cao tự nhiên. Chẳng hạn chính việc nghiên cứu
ân sủng và những nhân đức phú bẩm, đòi ta phải biết rằng linh hồn con người là thiêng liêng,
tự yếu tính là tự do và hướng về Thiên Chúa, Đấng là cùng đích của con người. Trong Kitô
học, khi nói rằng Đức Giêsu Kitô là “người thật”, thì cũng đòi ta phải hiểu cho đúng thế nào là
bản chất con người. Nếu hiểu tội lỗi về mặt thần học, ta cần phải biết đến những năng lực của
con người, đặc biệt là ý chí và những đam mê, và phải có một tri thức đúng mức về bản chất
điều thiện hảo và cái xấu. Sau cùng, đối với việc nghiên cứu Chúa Ba Ngôi và mầu nhiệm
Nhập Thể, tri thức của ta về khái niệm bản tính và ngôi vị là điều kiện cần thiết. (Nơi Thiên
Chúa, có ba ngôi vị Thiên Chúa với một bản tính Thiên Chúa; Đức Giêsu Kitô là một Ngôi Vị
– Ngôi Vị Thiên Chúa trong hai bản tính, bản tính Thiên Chúa và bản tính nhân loại). Hơn nữa,
thật khó mà có được một tri thức đúng mức về những chân lý được Thiên Chúa mặc khải, nếu
như trước đó không có một tri thức tự nhiên sâu sắc.
b) Một khi coi nhẹ tri thức siêu hình, Thần học sẽ không đạt đến tầm mức một khoa
học, và rơi vào sai lầm cũng như hàm hồ. Một tri thức chỉ được coi là có tính khoa học khi
nội dung của nó được diễn tả một cách có trật tự, căn cơ và chính xác, điều đó tạo nên một
toàn khối gắn bó. Vì phải sử dụng đến tri thức tự nhiên về thực tại, nên Thần học trở nên một
khoa học một khi tri thức đó tiên vàn được phong phú hóa bởi một khoa học dụng cụ, mà trong
trường hợp này, chính là Siêu hình học. Siêu hình học đem lại một sự chính xác cần thiết để
hiểu được ý nghĩa những thuật ngữ đến từ tri thức tự phát. Hơn nữa, những lối giải thích sai
lầm về tín điều trong dòng lịch sử đã buộc Thần học phải đi tìm sự chính xác về thuật ngữ và
khái niệm từ quan điểm Siêu hình học. Do đó, không thể nào bỏ qua những gì có được nhờ nỗ
lực trên, mà lại không gặp nguy cơ rơi vào cũng những sai lầm trước đó. Ví dụ, những thuật
ngữ như “biến đổi bản thể” (transubstantiation), “ngôi hiệp” (hypostatic union), và “chất liệu
và hình thế của bí tích” (matter and form of the sacraments), thì không thể được thay thế dễ
dàng, vì chúng diễn tả rõ ràng ý nghĩa xác thực của Đức tin, nhờ đó mà có thể tránh được
những sai lầm về mặt Đức tin.
Ngoài ra, Siêu hình học là cần thiết để hiểu được những lối diễn tả tín điều được huấn
quyền Giáo hội đề nghị. Thánh Giáo hoàng Piô X, trong thông điệp Doctoris Angelici (ngày 29
tháng 6 năm 1914) đã nói: “Nếu những nguyên lý đó (khoa Siêu hình học của thánh Thomas
Aquinas) mà bị loại bỏ hay bị méo mó, thì nhất thiết dẫn đến hậu quả là những ai nghiên cứu
các thánh khoa sẽ khó nắm bắt được ý nghĩa những ngôn từ đã được huấn quyền Giáo hội sử
dụng để diễn tả những tín điều đã được Thiên Chúa mặc khải. Do đó, chúng tôi ước mong rằng
mọi giáo sư triết học và thần học nên cảnh giác rằng nếu không đi theo bước đường của thánh
Thomas, nhất là trong những vấn đề siêu hình, ắt sẽ gây ra những thiệt hại nặng nề”.
Sau cùng, chúng ta cũng phải ghi nhớ rằng những kinh Tin Kính sử dụng rất nhiều thuật
ngữ chính xác, những thuật ngữ đó chỉ có thể hiểu được tốt hơn nhờ sự trợ giúp của tri thức
Siêu hình học xét như dụng cụ.
SÁCH ĐỌC THÊM
PLATO, Republic, V. 474b ff; VII, 514a ff. ARISTOTLE, Metaphysica, I, ch. 1-2; II, 1;
VI, 1; XI, 3. SAINT THOMAS AQUINAS, In Metaph., Prooem; I, lect. 2; II, 2; III, 4-6; IV,
1,4 and 5; VI, 1; XI, 1, 3 and 7; In Boeth. De Trinitate, lect. 2, q.1. L. DE RAEYMAEKER,
Filosofia del ser, Gredos, Madrid 1968.
CHƯƠNG II: HỮU THỂ - KHỞI ĐIỂM CỦA SIÊU
HÌNH HỌC
Trước khi đề cập đến những chủ đề khác, chúng ta cần có một cái nhìn khái quát sơ khởi
về một số khái niệm siêu hình nền tảng, như hữu thể, việc hiện hữu, yếu tính, tồn tại. Vì hữu thể
là đối tượng của Siêu hình học, cho nên mọi vấn đề cần phải được giải quyết căn cứ vào ý
nghĩa hữu thể. Do đó tiên vàn ta phải am tường về ý nghĩa hữu thể.
1. KHÁI NIỆM HỮU THỂ
Hữu thể là “cái hiện hữu” (Being is that which is = Ens est “id quod est”). Không thể
định nghĩa hữu thể theo nghĩa chặt được, vì một định nghĩa cần đến những khái niệm bao quát
hơn. Ví dụ, một chiếc xe hơi có thể được định nghĩa là một cỗ xe có gắn môtơ dùng để chuyên
chở. Nhưng để định nghĩa hữu thể, người ta cần đến một khái niệm tổng quát hơn bao gồm
được hữu thể. Tuy nhiên, không thể có được khái niệm nào theo kiểu đó, vì hữu thể bao trùm
mọi thực tại. Do đó ta chỉ có thể giải thích hữu thể là “cái hiện hữu”, “cái tồn tại”, hoặc
“cái có thực” (that which is real). Chẳng hạn một con người, một con chim, một chiếc máy
bay, tất cả đều là hữu thể.
Nói chặt chẽ, thuật ngữ hữu thể không có cùng ý nghĩa với thuật ngữ sự vật (thing).
(Being phát sinh từ động từ “to be” (esse).
Khái niệm hữu thể không phải là một khái niệm “đơn thuần”; nó hàm ý việc kết hợp
giữa một chủ thể (a subj...
 





