Hoa hậu Hoàn Vũ Việt Nam 2017 H'hen Niê đọc sách tranh Sóc con đi học
Chào mừng quý vị đến với website của
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Sôi Nổi

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Trần Thị Hạnh
Ngày gửi: 16h:07' 12-07-2025
Dung lượng: 724.6 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Trần Thị Hạnh
Ngày gửi: 16h:07' 12-07-2025
Dung lượng: 724.6 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Sôi Nổi
Nguyễn Lân
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
Table of Contents
Mục lục
Giới thiệu
Mở đầu
Huyền
Con cầu tự
U tình
Chút gì tiếc nuối
Kiếp trầm luân
Sôi nổi
Bản luân vũ cuối cùng
Nguyễn Lân
Sôi Nổi
Mở đầu
Kính dâng hương hồn cha, mẹ
Ông bà Hoàng Đạo
Nguyễn Tường Long
Thương tặng vợ hiền
Thẩm Tô Diễm Hoa
Những mẩu đời của từng nhân vật trong mỗi truyện đều là giả tưởng, nếu có trùng hợp chỉ là
tình cờ. Cá tính, hành động của mỗi nhân vật hay, dở, tốt, xấu là tùy theo nhãn quan, tùy theo
khả năng thâu nhận, tùy theo quan niệm sống của mỗi người. Tác giả viết ra để độc giả đọc chơi
mà suy ngẫm. Tác giả muốn trình bầy trong cái “cõi tạm” này không tìm đâu thấy sự toàn hảo.
Mặc dầu chỉ là những truyện ngắn mua vui, nhưng tác giả vẫn kỳ vọng sau khỉ đọc xong, độc giả
gạn lọc được vài điểm nào đó để cuộc sống tươi vui hơn, linh hoạt hơn, có ý nghĩa hơn.
Giấc mơ
Lân lấy xe lửa từ Hongkong đi Quảng Châu. Chuyến xe này sẽ ghé qua trấn Thạch Long, nơi
chàng ao ước tới. Khởi hành từ Hongkong, đoàn xe lửa cũ kỹ chở đầy hành khách, hàng hóa, ồn
ào hỗn độn với những người xạ phang nói gì chàng cũng chẳng hiểu và chàng cũng chẳng cần
hiểu. Lân chỉ mong chóng tới trấn Thạch Long, cái đích của chuyến du hành này thôi.
Mỗi lần tầu dừng lại một trạm, số người mang hàng hóa xuống nhiều hơn lên nên càng lúc tầu
càng bớt dần người, các toa trống dần nên cũng đỡ ồn ào. Lân chợp ngủ... chàng thấy mình chỉ
là một cậu bé cỡ mười tuổi đang nắm tay cha tung tăng trên sóng cát Sầm Sơn. Thế rồi, hai cha
con leo lên tận đỉnh hòn Trống Mái. Bầu trời trong xanh, lơ lửng từng cuộn mây trắng cuốn
tròn bay ngang. Gió biển lồng lộng thổi tung mái tóc bồng bềnh của ông Hoàng, cha Lân. Cậu bé
ngước nhìn cha như ngắm một thần tượng dạn dầy sương gió, khuôn mặt dắn dỏi, sống mũi
thanh cao nằm giữa đôi chân mày rậm, miệng mím mà như cười, cặp mắt sáng, tia nhìn thẳng
thắn mà xa xăm. Lân biết cha đang mơ một viễn ảnh đẹp đẽ... Ông Hoàng có lần nói với con:
“Sau này lớn lên, muốn làm gì cũng được nhưng làm gì mà ngửng mặt nhìn trời không thẹn với
trời, cúi xuống nhìn đất mà không hổ cùng đất... và nên giúp đỡ người nghèo, con ạ”.
Có lần ông Hoàng giắt con đi chơi, rồi để mặc cậu bé thơ thẩn một mình, ông ngồi xuống ghế
đá trong công viên, đọc sách. Bỗng một đứa bé trai cùng trạc tuổi Lân, bẩn thỉu rách rưới sán
lại gần. Rõ ra là một đứa trẻ ăn mày. Hắn giơ tay sờ vào bộ đồ nhung đen cậu bé đang mặc. Sợ
bẩn bộ đồ đẹp, Lân ù té chạy về phía cha, la hoảng: “Ba ơi! Ba ơi! Ăn mày!”
Ông Hoàng ngẩng đầu, nhìn về phía hai đứa trẻ, Ông thong thả đứng dậy đón con, nắm chặt tay
cậu bé và thong thả dắt Lân trở lại chỗ đứa bé ăn xin đang giương mắt nhìn sợ hãi, ông nhỏ nhẹ
nói với con: “Con hãy chào người bạn mới này đi!” Giọng ông như có một uy quyền nào khiến
Lân phải làm theo, ông móc túi lấy ra một hào đưa Lân, nhắc: “Con hãy đưa đồng hào này cho
bạn”. Lân làm theo cha như một cái máy. Lân vẫn thấy ghê ghê đứa bé ăn mày bẩn thỉu, nhưng
như có một sức mạnh nào tận đáy lòng thúc đẩy cậu tuân lời cha vì đó là lời khuyên đúng.
Ông Hoàng là tấm gương sáng cho Lân noi theo ngay từ khi cậu bé bắt đầu biết suy tư. Ông
không có nhiều cơ hội gần gũi các con vì luôn luôn ông phải đi xa, nay đây mai đó. Sự bận bịu
phải xa gia đình, vợ con, Lân mơ hồ biết là vì thời cuộc đòi hỏi. Những con người quốc gia vào
những thập niên 20, 30, 40 đã sẵn sàng hy sinh bản thân, gia đình vì đất nước. Họ dành hết
cuộc đời cho đại cuộc, cho vận mạng tổ quốc, cho tương lai dân tộc. Lân chỉ biết thế vì cậu còn
nhỏ... nhưng trong tâm hồn Lân, cậu đã thấy được chính nghĩa của những người quốc gia, của
các bác, các chú, của cha cậu. Vì thế Lân nhìn cha như một mẫu người lý tưởng nên theo. Tính
ông Hoàng điềm đạm, giản dị và vui vẻ với tất cả mọi người, ông thích đùa giỡn với các con,
ông lạc quan dù ở hoàn cảnh khó khăn, ông trầm ngâm tìm ra biện pháp thích ứng cho mọi
trường hợp. Nhưng với chính bản thân, ông là người biết khắc chế, không cờ bạc, rượu chè, hút
sách, trai gái, không đàn đúm, tán gẫu. Ông chỉ ham mê văn chương, sách vở và thích làm
những gì có ích cho mọi người, cho đất nước không quản công sức, thời giờ. Rất may, ông gặp
được những người đồng chí hướng, cùng tổ chức một nhóm văn đoàn đã gây một tiếng vang,
làm xao động xã hội thời đó mà dư âm còn ảnh hưỏng tới ngày nay. Đó là những người có nhiệt
tâm với dân, với nước. Đó là những người dám dấn thân.
Năm lên mười tuổi, cậu bé Lân đã cảm thấy thú vị và tự hào về những cuốn sách Hồng do
nhóm văn đoàn cua cha cậu tạo ra, mà sau này lớn lên, Lân mới biết cha và bác ruột là những
người đi vào lịch sử và có một sự nghiệp văn chương vững vàng. Mười tuổi, Lân đã cảm thấy
sung sướng, hãnh diện mỗi khi nghe mọi người nhắc đến tên cha cậu với niềm kính trọng mà
sau này Lân mới thấy tinh thần của cha là ngọn đuốc soi đường, là kim chỉ nam cho thanh niên
Việt Nam giầu lòng yêu nước.
Lân đăm đăm nhìn bức tượng sống động trước mắt, một hình ảnh thân yêu mãi mãi khắc sâu
trong tâm khảm... Bỗng bầu trời chuyển động, mây đen vần vũ che phủ khắp vạn vật. Tất cả
chìm trong bức màn tối âm u với những tiếng sấm ầm ầm ghê rợn... Một lằn chớp lóe sáng lên,
rạch đôi bầu trời... Tự thinh không cao vút, một vì sao rớt xuống, đâm thẳng vào đầu thần
tượng của cậu bé... ông Hoàng té nhào từ trên đỉnh núi xuống vực thẳm... mất hút trong biển
sâu... sóng bạc đầu trắng xóa. Trời vẫn gầm gừ. Mây đen vẫn ùn ùn kéo đến, Lân luống cuống sợ
hãi, gào trong tuyệt vọng: “Cha! Cha!”... Một tảng mây đen sì giáng xuống, úp chụp trên đầu cậu
bé...
Mồ hôi toát ra như tắm, Lân vùng dậy. Chỉ là một giấc mơ. Tấm chăn bông phủ kín đầu làm Lân
ngộp thở... phải chăng chính là đám mây đen? Nghĩ tới cha lòng cậu bé đau thắt. Giờ này, cha
cậu ở đâu? Chắc xa xôi lắm, tuốt mãi tận Quảng Châu bên Tầu như mẹ nói. Bao giờ cha mới trở
về với gia đình?
Hơn một tháng sau, vẻ buồn thảm, nước mắt ngấn mi, mẹ gọi ba đứa con lại và cho biết ông
Hoàng đã mất đúng vào ngày Lân nằm mơ thấy bố. Ông gục xuống trong một chuyến xe lửa từ
Hongkong về Quảng Châu ngay khi xe chạy trên một cây cầu bắc ngang qua một con sông lớn
nước chảy cuồn cuộn gần thị xã Tây Hội, trấn Thạch Long. Xác ông đã được đưa tới nhà quàn
để thân nhân tới nhận.
Nghe tin dữ, anh và chị Lân khóc ầm lên. Lân bé nhất nhà, chưa ý thức rõ nghĩa “sinh ly, tử
biệt”, cậu ngơ ngác, chui vào một góc tối nơi xó nhà, tưởng niệm tới bố. Số cha cậu chết trên
sông nước; có phải dòng sông gần trấn Thạch Long là dòng sông định mệnh? Có phải cha về
báo mộng hay chỉ là một sự trùng hợp tình cờ? Lân nhớ cha day dứt mà cậu vẫn không sao
khóc được!
Đã năm mươi năm qua... Cứ đến ngày giỗ, nhìn di ảnh cha trên bàn thờ, Lân vẫn tâm niệm sẽ có
ngày chàng tới Quảng Châu, tới trấn Thạch Long để tận mắt thấy nơi an nghỉ cuối cùng của
người cha yêu đấu. Thời thế đổi thay, mệnh nước nghiêng ngửa... Cũng như bao nhiêu người
dân Việt khác, Lân đã phải xa lìa quê hương, nhưng lòng chàng vãn khắc khoải hướng về cố
quốc với những đồng bào đói khổ, vẫn văng vẳng bên tai lời dặn dò của cha: “Con nên vì ai mà
sống, vì ai mà hy sinh”. Cứ mỗi năm mỗi lớn, lòng nhớ thương mỗi tăng dần khiến Lân phải đáp
máy bay tới Hongkong. Để có được cái cảm giác cùng cha đi chung một toa tầu, Lân đã lấy vé
xe lửa tới Quảng Châu. Lân chỉ muốn được thấy những gì ông Hoàng đã thấy năm mươi năm về
trước nhưng chàng vẫn e ngại vì biết chắc tất cả đã đổi thay với thời gian. Dù vậy, chàng vẫn
mơ được đi trên những tuyến đường mà ông Hoàng đã đi. Lân biết ước mong đó chỉ là ảo
tưởng. Nhưng khi ngồi trên xe lửa, quan sát toa tầu sao thấy cũ kỹ cổ xưa, ngó ra hai bên
đường sao trông cổ hủ lạc hậu. Có người hành khách đi cùng cho biết tuyến đường từ
Hongkong tới Quảng Chân không có gì thay đổi kể từ hơn năm mươi năm, ngay cả chuyến xe
lửa đương chạy cũng vẫn là chuyến xe của năm mươi năm cũ...
Gần đến trấn Thạch Long, trên toa Lân ngồi chỉ còn hai hành khách, một người đàn ông và
chàng. Người đàn ông mặc bộ đồ tây xám gợi Lân nhớ tới bộ đồ của ông Hoàng. Người đó ngồi
ngay trước mặt Lân, đang chăm chú đọc báo. Bỗng ông ta bỏ rơi tờ báo, gục xuống...
Lân đứng phắt dậy. Cha chàng đây mà. Ông Hoàng thỉnh thoảng vẫn ngất đi mỗi khi lên cơn
đau tim kể từ khi bị bọn thực dân Tây bắt và tra tấn tại nhà tù Vũ Bản hồi trước năm 1945 tại
Việt Nam. Lân sẽ làm hô hấp nhân tạo trong khi chờ đợi toán cấp cứu... nhưng... Lân vừa nắm
lấy tay cha, ông Hoàng bỗng tan biến vào hư vô...
Tiếng còi tầu lanh lảnh làm Lân chợt tỉnh, chàng nhoài mình ra cửa xe, ngó xuống. Tầu dần dần
chậm lại... xình xịch... xình xịch... ì ạch nặng nề, rùng mình thật mạnh trước khi ngừng tại một
ga nhỏ, trấn Thạch Long!
Khung cảnh buồn hiu hắt với những cây sấu cằn cỗi, lá lìa cành gần hết. Mùa thu đang tàn trong
bầu trời u ám, ảm đạm... Xa xa, những rặng tre ngà còn vương chút lá vàng...
Nhà quàn của thị xã nằm lẻ loi đơn độc gần đường xe lửa, tường vôi ẩm mốc, mái rêu phong,
trông nghèo nàn, tiêu điều, buồn tẻ. Nơi này, chính nơi này, ông Hoàng đã nằm chờ anh em tới
nhận xác. Lân xuống tầu, chạy như bay tới nhà quàn. Phòng khách tối tăm, lèo tèo vài chiếc ghế
đẩu cũ tróc sơn, một bàn gỗ mộc chân đã gãy, trống vắng. Ở góc phòng một cỗ quan tài đơn sơ
nằm chơ vơ lạnh lẽo, không hương nến. Lân tiến tới bên quan tài, nâng nắp hòm lên... Người
đàn ông trong bộ đồ tây xám, cha Lân đây, mặt mũi sưng vù, méo mó, đôi mắt nhắm nghiền...
trong khoảnh khắc, hình hài lại mờ ảo... Định thần, Lân không nhìn thấy gì nữa... chỉ mình
chàng trong căn phòng âm u, trống lạnh.
Lân đi ra ngoài, tìm đường tới nghĩa trang. Đây là khu đồng không mênh mông gần đường cái
quan, kế bên những thửa ruộng đã gặt chỉ còn trơ gốc rạ. Lác đác, vài ba bia mộ ngả nghiêng.
Bỗng Lân thấy những vệt lân tinh sáng lấp lánh từ một ngôi mộ bay ra. Lân nhắm ngôi mộ đó
tiến tới. Có phải vong linh cha về dẫn dắt chàng không? Trời chiều đã ngả bóng. Chiều thu trên
tha ma mộ địa không làm Lân rợn lạnh mà chàng chỉ thấy đớn đau nhung nhớ cha đang vò xé
tâm hồn. Hai lần gặp gỡ mà cha chàng khi ẩn khi hiện không một lời nhắn nhủ. Lân vẫn hy vọng
tại nghĩa địa hoang vắng này, tại nơi an nghỉ cuối cùng này, chàng sẽ được nghe lại giọng ấm
áp thân yêu. Lân quỳ xuống trước ngôi mộ. Nắng quái chiều hôm hiu hắt rớt trên tấm bia cũ kỹ,
nét khắc phai mờ vừa đủ đọc được những dòng chữ trong những tia nắng yếu ớt gần tắt lịm:
HOÀNG ĐẠO
Sinh 16/11/1907 - Mất 22/07/1948
Người Việt Nam
Yên nghỉ tại đây
Lân nghẹn ngào: “Cha ơi!”. Người đàn ông trong bộ đồ tây xám đứng trước mặt chàng. Bóng
chiều sẫm hẳn. Màn đêm đã xuống. Lân không thấy rõ mặt cha dù hai người chỉ cách nhau
trong tầm tay với. Ông Hoàng đứng thẳng. Lân quỳ dưới chân. Văng vẳng từ xa, giọng nói nhẹ
nhàng thân yêu: “Con cố hành động theo khả năng, theo lương tri... những gì có ích cho dân tộc,
cho nhân loại. Đừng ham danh vọng, giầu sang, phú quý. Đừng ganh ghét. Đừng kiêu ngạo.
Đừng sợ sệt. Ở tuổi con, ba không cần nói nhiều. Ngày nào còn tồn tại trên cõi đời, hãy vui vẻ,
hăng say sống... cho mình mà cũng cho người...”
Lân kêu lên: “Cha ơi! Con muốn hỏi...”
Ông Hoàng ngắt lời: “Con đừng nghĩ tới những điều không đáng chú trọng. Hãy tìm lấy chỗ
thoải mái, yên bình cho tâm hồn. Đó là hạnh phúc, con ạ!”
Bóng người cha nhạt dần... chỉ là khoảng không hụt hẫng... chới với... chàng ngã quỵ, đầu đập
lên bia mộ.
Lân sực tỉnh. Đồng hồ báo thức trên đầu giường rơi vào trán khiến chàng đau điếng. Có lẽ
trong cơn mê, chàng qườ quạng, vùng vẫy làm rớt cái đồng hồ. Cảm giác nhớ thương, mong
muốn gặp gỡ vẫn bóp nghẹt tim chàng. Giấc mộng tìm tới nơi an nghỉ của cha, Lân không thể
thực hiện được nữa. Đã năm mươi năm qua rồi, nước Tầu thay đổi, trấn Thạch Long cũng đã
đổi thay, khu nghĩa trang chốn cất ông Hoàng đã bị đào xới để trở thành vùng kinh tế mới.
Nắm xương tàn của cha chàng còn biết ở đâu? Thân cát bụi lại trả về cát bụi...
Hôm nay là ngày giỗ ông Hoàng. Ngày giỗ thứ năm mươi. Cộng đồng người Việt miền nam
California tổ chức lễ truy niệm, tưởng nhớ tới một người suốt đời đã hy sinh cho chính nghĩa,
cho dân tộc. Lân buồn rầu vì chưa làm được những gì chàng mong ước theo ý hướng cha. Lòng
kính yêu người cha quá cố vẫn rào rạt trong tâm khảm. Lân chỉ gặp lại cha trong giấc mơ... vẫn
còn nhiều giấc mơ nữa... vì tình nhớ thương không bao giờ phai nhạt.
Kính tặng vong linh CHA nhân ngày giỗ thứ năm mươi.
Ngày 22, tháng 7, năm 1999
Huyền
uyền chống tay nhìn qua khung cửa sổ, lặng ngắm bụi mưa lất phất bay tạo thành một đám
H sương mù trong một buổi chiều buồn, một buổi chiều cuối thu tại Hoa Thịnh Đốn. Nàng
mới nhận điện thoại của Hùng, một thanh niên trẻ tuổi, tầm thước, có đôi lông mày rậm và
cặp mắt đen. Nàng quen chàng trong một tai nạn xe hơi... nàng đã tông vào phía sau xe Hùng.
Ngay từ phút đầu gặp gỡ, anh chàng trẻ tuổi đã bị thu hút bởi người đàn bà gây ra tai nạn, và dĩ
nhiên, Huyền chẳng phải bồi thường. Không những thế, Hùng đã trở thành một người thân cận,
một hộ tống viên, cũng chưa phải, đúng ra là một cậu nhỏ dễ sai bảo của Huyền. Để bù lại,
Hùng có thể đến thăm Huyền bất cứ lúc nào, có thể vòi vĩnh Huyền làm cơm ngon cho ăn... và
có thể... còn nhiều thứ khác nữa... Huyền biết anh chàng trẻ tuổi đang si mê nàng, con mồi đã
mắc bẫy! Thật sự, Huyền thích một người đàn ông cứng cỏi, che chở bảo bọc nàng hơn là một
chàng trai mới lớn tính còn con nít, háo thắng. Hơn nữa, Huyền cười một mình, anh chàng lại
hay ghen, hơi một tí là giận dỗi. Nhưng dù sao, nàng vẫn chấp nhận dù Hùng còn nhỏ tuổi hơn
nàng, dù Hùng không có kinh nghiệm trong trường đời. Huyền đang cần một người đàn ông. Đã
ba đời chồng, nói đúng ra là già nhân ngãi, nàng không muốn tùy thuộc vào ai với những bổn
phận, trách nhiệm của người đàn bà Á Đông, nàng có tham vọng và đang cần danh vọng... Cuốn
phim dĩ vãng quay lại với những đoạn chính trong đời nàng...
Gia đình Huyền đông con có tiếng tại Gia Hội. Bố mẹ nàng có với nhau hai mươi mặt con. Kể từ
ngày người con trai đầu mất đi, mẹ Huyền sòn sòn năm một mười tám cô con gái với hai cặp
song sinh. Mẹ Huyền uất ức vì bà nội tuyên bố nếu con dâu không có con trai nối dõi, cụ sẽ lấy
vợ bé cho bố Huyền. Vì thế, với ý chí sắt đá cương quyết và sức chịu đựng dẻo dai của người
phụ nữ xứ Thần Kinh, hai mươi năm sau ngày cậu cả mất, ông bà có thêm cậu con út kế tiếp
mười tám cô. Huyền là con gái thứ ba, nàng trông dịu dàng, yếu đuối dễ làm mềm lòng những
đấng tu mi nam tử; giọng nói của Huyền trong vắt, nhẹ nhàng. Nàng còn có vẻ mực thước, thùy
mị, hơi lãnh đạm ra dáng con gái Huế. Vóc dáng thon mảnh, gầy yếu dễ khơi động lòng thương
nơi người đối diện. Khuôn mặt trái soan, cằm nhọn, mũi nhỏ, miệng xinh khoe đôi hàm răng
nà nuột, đôi môi tươi mọng nhưng hơi mỏng là tướng của người có khả năng thuyết phục, ăn
nói lưu loát, nhưng cũng là người biết đẩy đưa, biết dối trá. Đôi mắt nàng trong sáng màu hạt
dẻ trông đầy vẻ dễ thương ẩn dưới cặp chân mày cong vút, ánh mắt khi thì lạnh lùng khi thì
nũng nịu, có sức thu hút nhưng ẩn hiện đâu đây tâm tình của một con người bạc bẽo. Thầy
tướng nói thế, phần Huyền, nàng chỉ thấy nàng là con người trọng nghĩa, biết hy sinh và dám
làm tất cả những gì nàng thấy nên làm. Tính này, nàng thừa hưởng của mẹ, người đàn bà kiên
trì và sắt đá. Vẻ dịu dàng bên ngoài Huyền giống cha, một người đàn ông bình thường, yên
phận, thương yêu gia đình và nể vợ.
Trong nhà, Huyền rất được cha thương yêu. Cha chiều nàng nhất trong mười tám cô con gái.
Từ bé, nàng luôn luôn ngủ với cha. Nhưng tính Huyền cắc cớ, nàng thích nằm trên đầu giường.
Lúc ấy Huyền đã bảy tuổi, nhưng nàng vẫn còn tật đái dầm. Một đêm, nàng trút cả “bầu tâm sự”
lên đầu bố. Cha không phàn nàn, không la mắng, lo tắm rửa cho con và cho bản thân rồi lên
giường ngủ tiếp. Sáng thức giấc, một cô nào trong đám chị em mách mẹ. Bà gọi Huyền lên rầy
la. Huyền cãi mẹ hăng đến nỗi bà cả giận, vớ lấy chiếc ghế đẩu ném về phía Huyền. Huyền cũng
ghê gớm không kém, thay vì né tránh, nàng giơ chân đá chiếc ghế. Thế là lần ấy, Huyền bị nứt
xương ống chân. Nàng hận mẹ, và mẹ nàng cũng ớn nàng. Trong đám chị em, chỉ một mình
Huyền là làm cho mẹ sợ. Tính mẹ cương cường, và Huyền cũng không kém. Cha chỉ cười hiền
hòa và nói “mẹ nào, con nấy”. Vì tính giống nhau nên không ai nhịn ai, và khó ưa nhau. Huyền
làm mẹ mất mặt với bà con chòm xóm bằng cách ra đường ăn mặc bệ rạc, rách rưới. Mẹ đông
con, không có thì giờ để ý đến từng đứa. Thảng hoặc, có người nói tới tai mẹ, bà lại lôi Huyền ra
mắng nhiếc, Huyền càng ghét mẹ, càng làm già. Trong mười tám cô, chỉ có Huyền kết bạn với
bọn ăn mày trong thành nội. Huyền muốn làm xấu mẹ, nhưng vẫn nghĩ mình có tinh thần xã
hội cao. Trong nhà, vừa đông người, vừa nhiều gà. Bà nội chỉ mang cho Huyền một đôi gà mái
tơ và một con gà trống mà chỉ hơn một năm sau, gà mẹ, gà con đầy vườn. Chúng xâm lăng vào
trong nhà. Chị em Huyền, nhiều đứa phải ngủ với đám gà con, trứng gà la liệt khắp nơi. Đừng
nói gì ngoài vườn, trên giường ngủ của các cô, gà mái làm tổ, ấp trứng ngay trên nóc mùng,
trên đầu giường, trong chăn nệm. Nhiều sáng thức giấc, mấy cô em nhỏ khóc hu hu vì mặt mày,
đầu tóc bê bết đầy lòng đỏ, lòng trắng trứng gà. Huyền phải xin lỗi chí chết và hứa săn sóc kỹ
lưỡng đám gà con mới nở.
Vì nhà nhiều gà và trứng như thế nên Huyền dẫn đám bạn ăn mày về khoe. Năm ấy, Huyền đã
mười hai tuổi, đứng đầu bọn “cái bang” thành nội. Khi Huyền và bọn trẻ con rách rưới vào tới
sân, mẹ đương chơi đánh xệp cùng mấy bà bạn. Huyền vào thưa mẹ để xin bà cho các bạn ăn
cơm trưa cùng gia đình. Đang ham chơi bài, mẹ ừ hữ. Chừng hết canh bạc, bà đứng dậy xuống
bếp bảo u già nấu cơm mới té ngửa người vì bọn bạn Huyền, gần hai chục mạng bẩn thỉu la hét,
chửi thề vang một góc vườn. Giận quá, bà cầm thanh củi tạ, chạy ra sân vừa quơ lên dọa nạt
vừa to tiếng xua đuổi tụi ăn mày ra khỏi nhà. Mẹ to lớn, mạnh mẽ, đúng là hung thần của “cái
bang”. Huyền vội vã leo lên nóc nhủ, hét vọng xuống:
- Mẹ ngưng tay! Các bạn con vô tội. Mẹ đã hứa cho chúng ăn thì phải giữ lời hứa. Mẹ không giữ
lời hứa là làm nhục con. Con sẽ nhảy từ trên mái nhà này xuống chết quách cho rồi!
Bà đành chịu thua vì biết tính con. Huyền giống mình chứ giống ai, bà tự nghĩ, nói là làm,
không cần tới hậu quả. Nhưng một bữa, bà không chịu nổi tính tai quái quá quát của Huyền...
khi bà vừa bước chân vào cổng, bà rợn da gà vì tiếng chó oăng oẳng kêu la; rên rỉ... Chạy vội vào
sân trong, bà khựng lại vì cảnh vừa tức cười vừa tội nghiệp trước mắt: mẹ bà, lúc ấy đã bảy
mươi, đang ngồi chồm hổm với một thau nước ấm, loay hoay rửa phần dưới bụng của hai con
chó đang “dính lẹo”, con vàng của nhà và con vện bên hàng xóm. Thấy bà, ngoại than: “Con
Huyền nghịch ác quá!” Rồi, ngoại kể: hai con chó, một đực, một cái, đang mây mưa một cách
say sưa, quên đời... thì Huyền lấy vôi trộn với nước và trát ngay trên bụng hai con chó đáng
thương đang cong mình oằn oại làm tình. Chỉ vài phút sau, vôi khô, bó chặt hai bộ phận sinh
dục dính cứng lấy nhau. Lúc ấy, hai con chó đã xong việc, con vện muốn rút ra cũng không
được nữa. Hai con vật càng vùng vẫy, giằng co, càng bị cột chặt. Chúng chỉ còn biết tru lên đau
đớn. Ngoại phải pha nước ấm, vã vào bụng dưới của chúng, gỡ từng miếng vôi...
Đến nước này, bà biết không thể răn dạy được con. Cuối cùng, bà đề nghị với chồng đưa Huyền
vào chùa Trà Am tạm một thời gian; may ra trong cửa Phật con bé dần dần thuần tính. Ông
không nghĩ vậy, tính Huyền như thế... sẽ vẫn như thế. ông dạy con rất dịu dàng với sự thương
yêu chân thành; Huyền thương cha lắm, nhưng ông có sửa đổi được nàng đâu! Chẳng nhẽ ông
nói với vợ: “Tính con bé giống hệt tính bà!” Còn nhớ, khi thằng con trai đầu lòng mất, vợ ông
tiếp tục đẻ toàn con gái; mẹ ông có ý định lấy vợ lẽ cho ông để kiếm một mụn con trai! Biết vậy,
vợ ông tức khí đẻ liên tục cho tới đứa cuối cùng là... một thằng cu mới chịu ngưng! Để trả thù
mẹ chồng, vợ ông khi sanh tới cô gái thứ mười ba đã khai sinh cho con một cái tên chẳng ai có
“Huyền Tôn Nữ Cà Thọt”. Chẳng là mẹ chồng khi xưa bị trâu điên húc nên khập khiễng bước
thấp bước cao, đứa bé gái đó lại giống bà nội nhất nhà! Nghĩ chán, ông đành chiều ý vợ cho yên
chuyện. Thế là Huyền được đưa tới chùa Trà Am.
Huyền hí hửng theo ngoại tới chùa, cô bé sắp có một cuộc sống mới, đối với cô bé nó thật hấp
dẫn và quyến rũ. Thầy Tịnh Tâm, sư trụ trì chùa Trà Am năm ấy đã ngoài bảy mươi nhưng vẫn
còn khỏe mạnh và minh mẫn. Ngoại là vãi lâu năm tại chùa, Phật sự một tay bà lo liệu. Bà trình
bầy tự sự với thầy Tịnh Tâm với ý gửi gấm Huyền cho thầy. Thầy nhìn Huyền đăm đăm, nở
một nụ cười nhân hậu:
- Bà muốn gửi cháu, nhà chùa sẵn sàng nhận. Nhưng thầy không dám đoan quyết cái tính nết
cô bé này đâu. “Nhân vô thập toàn”, ngỗ nghịch vậy chứ thông minh lắm đấy. Mai này, biết đâu
với tính cang cường như vậy mà lại làm nên việc lớn. Thầy chỉ nói thế rồi bảo tiểu dọn phòng
cho Huyền.
Bà ngoại dặn dò Huyền những gì không nên làm trong chùa. Những lời này được nhắc đi nhắc
lại cả chục lần từ ngày mẹ có quyết định nhờ ngoại gửi gấm cô bé trong chùa. Lời nói của ngoại
từ tai này qua tai khác bay ra ngoài không gian. Lòng Huyền xốn xang xen chút hí hửng về nơi
ở mới dù chùa Trà Am đã quá quen thuộc vì tuần nào ngoại cũng dẫn cả đoàn cháu đi lễ Phật.
Bà ngoại về rồi, Huyền vội chạy ra sau chùa. Cô bé đứng lặng trước tàn khế lả ngọn trên mặt ao.
Cây khế sai trái nhưng chẳng bao giờ thấy quả ngọt trên cành vì trẻ con trong vùng, kể cả đám
chị em Huyền chiếu cố tận tình nên sư sãi trong chùa tưởng cây chỉ có hoa đực.
Trong chùa Trà Am, ngoài thầy Tịnh Tâm, hai sư bác, còn có chú tiểu Nhi cũng trạc tuổi Huyền.
Huyền rất thích chọc ghẹo chú tiểu này. Mấy bà vãi thường hay mang lén nếp và men rượu tới
ủ tại một góc kín dưới bếp mà mấy thầy không hay. Chỉ ở có ba hôm, Huyền đã mò mẫm ra chỗ
giấu rượu.
Một bữa, thầy trụ trì và hai sư bác phải đi tụng kinh cho một đám tang ở xa tới tối mới về. Cơm
chay đã nấu sẵn để ở dưới bếp. Thầy dặn dò chú tiểu và Huyền cứ ăn uống trước, không cần
phải đợi các thầy. Người lớn đi hết, trong chùa chỉ còn có Huyền, chú tiểu Nhi và một con chó
mực. Huyền rủ tiểu Nhi ra đồng chơi bắt dế, chọi dế. Mặt trời ngả bóng, cả hai mới về chùa, lục
cơm ăn. Huyền vào chỗ giấu rượu , lấy rượu nếp trộn lẫn với cơm trắng vào hai bát, một cho
chú Nhi, một cho con mực. Chú Nhi đói bụng, lạ miệng, loáng một cái hết tô cơm rượu một
cách ngon lành. Con mực lúc đầu còn hửi hửi, quay đi, rồi đói quá, quay lại ăn sạch nhẵn tô cơm
rượu.
Sau bữa cơm, Huyền ôm bụng cười thích thú vì chú tiểu Nhi mặt đỏ như gấc đi khuệnh khoạng,
chân nam đá chân xiêu, tay bất ấn, miệng lải nhải tụng kinh. Còn con chó chạy lồng lên như
ngựa chứng. Đúng lúc ấy, thầy và hai sư bác về đến chùa. Trước cảnh tượng này, hai sư bác
luống cuống, riêng thầy vẫn bình tĩnh khiến một sư bác pha nước chanh cho tiểu Nhi uống, rồi
dìu chú vào phòng; một sư bác pha nước gạo cho con mực và xích nó vào một cây cột trước
tam cấp. Sau đó, thầy ôn tồn hỏi Huyền: “Con lấy rượu ở đâu cho chúng uống?” Huyền phải
khai sự thật. Từ ngày đó, mấy bà vãi không còn dám giấu rượu trong chùa.
Ngày lễ Vu Lan tới, trong chùa trăng đèn kết hoa, nam thanh nữ tú, ông già bà lão, con trẻ tụ
tập tại chùa. Chôn Thiền Môn nhộn nhịp, và Huyền cũng hứng khởi vui tươi. Đúng chính Ngọ,
thầy làm lễ. Khách thập phương tháo giầy, đi chân đất vào chánh điện dự lễ và nghe thầy giảng
kinh. Giọng thầy vang vang trong máy vi ám. Những cặp mắt đổ dồn về phía thầy, những đôi tai
trang trọng lắng nghe... không ai để ý tới cô bé nghịch ngợm trước chánh điện. Huyền tìm một
bao nylon lớn, dồn giầy dép của khách thập phương vào, vác ra cầu ao, trút tất cả xuống nước.
Đi chừng năm chuyến, cô bé làm xong công tác phá hoại, hoàn tất một trò chơi tinh nghịch.
Sung sướng, Huyền vào phòng nằm ngó mông lung qua khung cửa sổ, ngắm khoảng trời xanh
biếc cho tới lức những tiếng ồn ào, la ơi ới, hoảng hốt từ chánh điện vọng xuống...
Huyền đã chán cảnh chùa, chán chú tiểu Nhi, Huyền nhớ bố, nhớ đám chị em trong nhà, nàng
chỉ mong về lại gia đình. Trò chơi của nàng đã đưa nàng tới đích. Thầy Tịnh Tâm đã sợ những
trò nghịch ngợm tinh ma, nhắn ngoại lên đón Huyền về.
Tới nhà, gặp mẹ, bà không nói năng gì, bà đành chịu thua cô con gái cứng đầu cứng cổ. Huyện
ưa ngọt, song bà không quen và cũng không có thì giờ để ngọt ngào với Huyền, đành cứ để
nàng sống tự do, lớn lên như cây cỏ. Những lúc hàng xóm láng giềng phiền trách về đám con
gái của bà do Huyền cầm đầu, bà chỉ còn nước xin lỗi. Như bữa trước vào một ngày mưa, mà
Huế thì mưa dầm dề suốt tháng, đám chị em Huyền cả thẩy mười ba cô tô hô tôi tắm trong ngõ
nhà bà tham Chương vì nhà bà này có dãy ống máng bên hông. Năm ấy Huyền đã mười lăm
tuổi, vẫn là đầu đàn của đám em tồng ngồng chạy rông ngoài phố mưa tầm tã. Nhà bà tham
Chương có hai cậu con trai trạc tuổi Huyền, nhút nhát e lệ, cứ thấy đám chị em Huyền là lẩn
tránh. Nhưng, vào những hôm trời mưa, hai cậu tuy sợ nhưng thú thích, nấp sau rèm cửa lén
nhìn đám con gái nô rỡn trước nhà. Bị bà mẹ bắt gặp quả tang, bị cây phát trần quắn đít, hai
cậu đổ tội cho đám con gái tới chọc ghẹo. Những lần như vậy, bà tham Chương tới mách, mẹ
Huyền lại bực tức và buồn rầu.
Năm hai mươi tư tuổi, Huyền mới gặp Trác. Trác lúc đó là sinh viên năm thứ ba trường thuốc,
Trác bị lôi cuốn bởi vóc dáng mảnh mai, bởi giọng hát trong trẻo, bởi nụ cười tinh nghịch, bởi
cặp mắt màu hạt dẻ lãnh đạm và nhất là bởi tính gan góc của Huyền. Trác mới hai mươi lăm
tuổi, chàng cũng hiếu thắng như những chàng trai trẻ khác, cũng thích chinh phục những bông
hồng có gai sắc nhọn nên đã đeo đuổi Huyền.
Một chiều tà trên đồi Vọng Cảnh, trong tiếng gió vi vu giữa những hàng thông xao xác, Trác
mạnh dạn nắm tay Huyền tỏ tình. Huyền ngỡ ngàng vì từ trước đến nay, nàng là người chủ
động, và nàng cũng chưa từng nghĩ tới yêu đương tình tự. Nàng thích chọc quê những cậu trai,
đùa cho thỏa, thế thôi. Lần này, nàng từ ngỡ ngàng ngạc nhiên đến rung cảm xúc động. Nàng
cũng thấy thinh thích Trác, một loại người khá lì lợm, đầu tóc bù xù, râu mọc lởm chởm, lê đôi
dép món vẹt dơ dáy. Nàng thấy hay hay, nàng thấy chàng tự nhiên, nàng thấy chàng phóng
khoáng, và... nàng bắt đầu thấy nhớ thương... Trác còn nặng lời thề thốt cải lương một cách
đáng yêu rằng khi nào không còn mặt trời trên thế gian này thì tình chàng mới dứt. Huyền tin!
Chiến tranh làm con người thêm chai đá. Huế đau thương với giải khăn sô năm 1968 làm tuổi
trẻ nơi chị em Huyền thui chột. Huyền không sao quên được cái ngày gia đình tản mát, tan tác
trong lửa đạn. Cái cảm giác của đôi bàn chân dẫm lên xác người ngoài đường phố, bên bờ ao,
dưới ruộng sâu mãi mãi đeo đuổi nàng, ám ảnh nàng. Dù gan góc đến đâu, dù lì lợm đến đâu,
Huyền cũng không khỏi bật khóc, hoảng hốt trong những cơn ác mộng. Biến cố Mậu Thân chưa
nguôi trong lòng người dân cố đô... thì... đại tang của đất nước lại ập đến cho người dân Việt từ
con sông Bến Hải trở vào, ngày 30 tháng 4 năm 1975, Cộng sản tóm thâu toàn quốc. Cha Huyền
cũng như những sĩ quan trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa khác, lên đường đi học tập. Ngày
chia tay, Huyền cảm thấy tim nàng như bị một bàn tay thép bóp nghẹt, nàng linh cảm từ nay
phải vĩnh viễn chia lìa người cha thương yêu. Cha ôm hôn từng đứa con, đến lượt Huyền, ông
nghẹn ngào: “Cầu Phật phù hộ cho con. Con cố dưỡng tâm, con hỉ?!” Huyền nức nở, người mà
Huyền thương yêu nhất, người bảo bọc che chở cho nàng thôi đành xa lìa...
Năm năm sống với Cộng sản, gia đình Huyền cũng như những gia đình khác, ngày một sa sút.
Bố đã ở trong tù, mẹ không còn mối Mỹ bán buôn, chạy ăn từng bữa. Sáu cô trong đám chị em
phải bương ra đi làm, Huyền đi dạy học. Hai chị lớn lại trở về mái nhà xưa vì hai ông anh rể
trong lực lượng đặc biệt đều nằm trong trại cải tạo. Năm năm sống với Cộng sản, Huyền học
được tính chịu đựng và học được cả tỉnh lọc lừa rất tự nhiên.
Ngày cùng Trác vượt biển ra đi, Huyền chỉ cảm thấy xót xa nhớ bố, nhưng đến lúc nằm trong
khoang thuyền tròng trành giữa đại dương, nàng mới thấy thiết tha nhớ mẹ. Thế rồi nàng ngất
đi vì mệt, vì kiệt sức. May mà Trác đã thủ sẵn một túi thuốc, chích cho nàng hồi tỉnh. Rồi hai
người cùng thoát, cả hai được đưa về vùng Iowa giá lạnh, sống với một cặp vợ chồng Mỹ còn
trẻ cũng trạc tuổi họ, bảo lãnh họ. Trác khai Huyền là hôn thê của chàng nên hai người được ở
chung một căn phòng. Trác nghiện thuốc lá nặng nhưng không đủ tiền mua thuốc nên vào
những ngày đầu mới đến, Huyền phải lượm lặt từng penny mua thuốc hút cho chàng. Dù tuyết
phủ kín đường, dù giá rét căm căm, dù bị phong thấp đau nhức khớp xương, Huyền vẫn lặn lội
trong mưa tuyết ra xa tít ngoài phố mua thuốc hút cho Trác vì chàng ngượng cầm một bịch
pennies trong tay xỉa ra quầy trả. Huyền và Trác cùng ghi tên học tại Đại học Cộng Đồng của
thành phố Iowa. Đời sống êm đềm cho đến ngày hai vợ chồng người sponsor cãi lộn, rồi xa
nhau. Trác thường chở người vợ đi làm vì anh chồng đã dọn ra ngoài, Huyền không để ý, vẫn
sống tự nhiên cho đến một ngày Trác vắng nhà, người vợ gọi Huyền vào phòng riêng và cho
nàng biết cô ta sẽ sống luôn với Trác. Tự ái nổi dậy, Huyền không cần chờ Trác về, nàng thu
xếp mấy món quần áo cũ, bỏ vào một túi xách nhỏ, thất thểu ra đi. Nàng biết khu chung cư
dành cho những người nghèo, nàng nhổm hướng đó tiến bước...
Lawrence Washington hiện là manager của chung cư Hudson thuộc chính phủ, chung cư cho
những người nghèo. Larry là một người da đen to lớn, môi dầy, mắt ốc nhồi, tóc quăn tít nhưng
dáng dấp trí thức và lịch sự. Tiếng gõ cửa nhè nhẹ khiến Larry ngưng làm việc, ngẩng đầu lên.
Trước mắt Larry là một cồ gái Á Đông vóc đáng gầy yếu, xanh lướt, run rẩy khiến anh vừa ngạc
nhiên vừa thương hại.
- Có chuyện gì vậy cô?
- Tôi muốn xin một căn trong khu chung cư Hudson!
Giọng nói trong, thanh, cao vút và ẩn chút nửa kiêu kỳ nửa bất cần đời khiến anh chàng da đen
chú ý.
- Cô có giấy giới thiệu không? Tôi...
Nguyễn Lân
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
Table of Contents
Mục lục
Giới thiệu
Mở đầu
Huyền
Con cầu tự
U tình
Chút gì tiếc nuối
Kiếp trầm luân
Sôi nổi
Bản luân vũ cuối cùng
Nguyễn Lân
Sôi Nổi
Mở đầu
Kính dâng hương hồn cha, mẹ
Ông bà Hoàng Đạo
Nguyễn Tường Long
Thương tặng vợ hiền
Thẩm Tô Diễm Hoa
Những mẩu đời của từng nhân vật trong mỗi truyện đều là giả tưởng, nếu có trùng hợp chỉ là
tình cờ. Cá tính, hành động của mỗi nhân vật hay, dở, tốt, xấu là tùy theo nhãn quan, tùy theo
khả năng thâu nhận, tùy theo quan niệm sống của mỗi người. Tác giả viết ra để độc giả đọc chơi
mà suy ngẫm. Tác giả muốn trình bầy trong cái “cõi tạm” này không tìm đâu thấy sự toàn hảo.
Mặc dầu chỉ là những truyện ngắn mua vui, nhưng tác giả vẫn kỳ vọng sau khỉ đọc xong, độc giả
gạn lọc được vài điểm nào đó để cuộc sống tươi vui hơn, linh hoạt hơn, có ý nghĩa hơn.
Giấc mơ
Lân lấy xe lửa từ Hongkong đi Quảng Châu. Chuyến xe này sẽ ghé qua trấn Thạch Long, nơi
chàng ao ước tới. Khởi hành từ Hongkong, đoàn xe lửa cũ kỹ chở đầy hành khách, hàng hóa, ồn
ào hỗn độn với những người xạ phang nói gì chàng cũng chẳng hiểu và chàng cũng chẳng cần
hiểu. Lân chỉ mong chóng tới trấn Thạch Long, cái đích của chuyến du hành này thôi.
Mỗi lần tầu dừng lại một trạm, số người mang hàng hóa xuống nhiều hơn lên nên càng lúc tầu
càng bớt dần người, các toa trống dần nên cũng đỡ ồn ào. Lân chợp ngủ... chàng thấy mình chỉ
là một cậu bé cỡ mười tuổi đang nắm tay cha tung tăng trên sóng cát Sầm Sơn. Thế rồi, hai cha
con leo lên tận đỉnh hòn Trống Mái. Bầu trời trong xanh, lơ lửng từng cuộn mây trắng cuốn
tròn bay ngang. Gió biển lồng lộng thổi tung mái tóc bồng bềnh của ông Hoàng, cha Lân. Cậu bé
ngước nhìn cha như ngắm một thần tượng dạn dầy sương gió, khuôn mặt dắn dỏi, sống mũi
thanh cao nằm giữa đôi chân mày rậm, miệng mím mà như cười, cặp mắt sáng, tia nhìn thẳng
thắn mà xa xăm. Lân biết cha đang mơ một viễn ảnh đẹp đẽ... Ông Hoàng có lần nói với con:
“Sau này lớn lên, muốn làm gì cũng được nhưng làm gì mà ngửng mặt nhìn trời không thẹn với
trời, cúi xuống nhìn đất mà không hổ cùng đất... và nên giúp đỡ người nghèo, con ạ”.
Có lần ông Hoàng giắt con đi chơi, rồi để mặc cậu bé thơ thẩn một mình, ông ngồi xuống ghế
đá trong công viên, đọc sách. Bỗng một đứa bé trai cùng trạc tuổi Lân, bẩn thỉu rách rưới sán
lại gần. Rõ ra là một đứa trẻ ăn mày. Hắn giơ tay sờ vào bộ đồ nhung đen cậu bé đang mặc. Sợ
bẩn bộ đồ đẹp, Lân ù té chạy về phía cha, la hoảng: “Ba ơi! Ba ơi! Ăn mày!”
Ông Hoàng ngẩng đầu, nhìn về phía hai đứa trẻ, Ông thong thả đứng dậy đón con, nắm chặt tay
cậu bé và thong thả dắt Lân trở lại chỗ đứa bé ăn xin đang giương mắt nhìn sợ hãi, ông nhỏ nhẹ
nói với con: “Con hãy chào người bạn mới này đi!” Giọng ông như có một uy quyền nào khiến
Lân phải làm theo, ông móc túi lấy ra một hào đưa Lân, nhắc: “Con hãy đưa đồng hào này cho
bạn”. Lân làm theo cha như một cái máy. Lân vẫn thấy ghê ghê đứa bé ăn mày bẩn thỉu, nhưng
như có một sức mạnh nào tận đáy lòng thúc đẩy cậu tuân lời cha vì đó là lời khuyên đúng.
Ông Hoàng là tấm gương sáng cho Lân noi theo ngay từ khi cậu bé bắt đầu biết suy tư. Ông
không có nhiều cơ hội gần gũi các con vì luôn luôn ông phải đi xa, nay đây mai đó. Sự bận bịu
phải xa gia đình, vợ con, Lân mơ hồ biết là vì thời cuộc đòi hỏi. Những con người quốc gia vào
những thập niên 20, 30, 40 đã sẵn sàng hy sinh bản thân, gia đình vì đất nước. Họ dành hết
cuộc đời cho đại cuộc, cho vận mạng tổ quốc, cho tương lai dân tộc. Lân chỉ biết thế vì cậu còn
nhỏ... nhưng trong tâm hồn Lân, cậu đã thấy được chính nghĩa của những người quốc gia, của
các bác, các chú, của cha cậu. Vì thế Lân nhìn cha như một mẫu người lý tưởng nên theo. Tính
ông Hoàng điềm đạm, giản dị và vui vẻ với tất cả mọi người, ông thích đùa giỡn với các con,
ông lạc quan dù ở hoàn cảnh khó khăn, ông trầm ngâm tìm ra biện pháp thích ứng cho mọi
trường hợp. Nhưng với chính bản thân, ông là người biết khắc chế, không cờ bạc, rượu chè, hút
sách, trai gái, không đàn đúm, tán gẫu. Ông chỉ ham mê văn chương, sách vở và thích làm
những gì có ích cho mọi người, cho đất nước không quản công sức, thời giờ. Rất may, ông gặp
được những người đồng chí hướng, cùng tổ chức một nhóm văn đoàn đã gây một tiếng vang,
làm xao động xã hội thời đó mà dư âm còn ảnh hưỏng tới ngày nay. Đó là những người có nhiệt
tâm với dân, với nước. Đó là những người dám dấn thân.
Năm lên mười tuổi, cậu bé Lân đã cảm thấy thú vị và tự hào về những cuốn sách Hồng do
nhóm văn đoàn cua cha cậu tạo ra, mà sau này lớn lên, Lân mới biết cha và bác ruột là những
người đi vào lịch sử và có một sự nghiệp văn chương vững vàng. Mười tuổi, Lân đã cảm thấy
sung sướng, hãnh diện mỗi khi nghe mọi người nhắc đến tên cha cậu với niềm kính trọng mà
sau này Lân mới thấy tinh thần của cha là ngọn đuốc soi đường, là kim chỉ nam cho thanh niên
Việt Nam giầu lòng yêu nước.
Lân đăm đăm nhìn bức tượng sống động trước mắt, một hình ảnh thân yêu mãi mãi khắc sâu
trong tâm khảm... Bỗng bầu trời chuyển động, mây đen vần vũ che phủ khắp vạn vật. Tất cả
chìm trong bức màn tối âm u với những tiếng sấm ầm ầm ghê rợn... Một lằn chớp lóe sáng lên,
rạch đôi bầu trời... Tự thinh không cao vút, một vì sao rớt xuống, đâm thẳng vào đầu thần
tượng của cậu bé... ông Hoàng té nhào từ trên đỉnh núi xuống vực thẳm... mất hút trong biển
sâu... sóng bạc đầu trắng xóa. Trời vẫn gầm gừ. Mây đen vẫn ùn ùn kéo đến, Lân luống cuống sợ
hãi, gào trong tuyệt vọng: “Cha! Cha!”... Một tảng mây đen sì giáng xuống, úp chụp trên đầu cậu
bé...
Mồ hôi toát ra như tắm, Lân vùng dậy. Chỉ là một giấc mơ. Tấm chăn bông phủ kín đầu làm Lân
ngộp thở... phải chăng chính là đám mây đen? Nghĩ tới cha lòng cậu bé đau thắt. Giờ này, cha
cậu ở đâu? Chắc xa xôi lắm, tuốt mãi tận Quảng Châu bên Tầu như mẹ nói. Bao giờ cha mới trở
về với gia đình?
Hơn một tháng sau, vẻ buồn thảm, nước mắt ngấn mi, mẹ gọi ba đứa con lại và cho biết ông
Hoàng đã mất đúng vào ngày Lân nằm mơ thấy bố. Ông gục xuống trong một chuyến xe lửa từ
Hongkong về Quảng Châu ngay khi xe chạy trên một cây cầu bắc ngang qua một con sông lớn
nước chảy cuồn cuộn gần thị xã Tây Hội, trấn Thạch Long. Xác ông đã được đưa tới nhà quàn
để thân nhân tới nhận.
Nghe tin dữ, anh và chị Lân khóc ầm lên. Lân bé nhất nhà, chưa ý thức rõ nghĩa “sinh ly, tử
biệt”, cậu ngơ ngác, chui vào một góc tối nơi xó nhà, tưởng niệm tới bố. Số cha cậu chết trên
sông nước; có phải dòng sông gần trấn Thạch Long là dòng sông định mệnh? Có phải cha về
báo mộng hay chỉ là một sự trùng hợp tình cờ? Lân nhớ cha day dứt mà cậu vẫn không sao
khóc được!
Đã năm mươi năm qua... Cứ đến ngày giỗ, nhìn di ảnh cha trên bàn thờ, Lân vẫn tâm niệm sẽ có
ngày chàng tới Quảng Châu, tới trấn Thạch Long để tận mắt thấy nơi an nghỉ cuối cùng của
người cha yêu đấu. Thời thế đổi thay, mệnh nước nghiêng ngửa... Cũng như bao nhiêu người
dân Việt khác, Lân đã phải xa lìa quê hương, nhưng lòng chàng vãn khắc khoải hướng về cố
quốc với những đồng bào đói khổ, vẫn văng vẳng bên tai lời dặn dò của cha: “Con nên vì ai mà
sống, vì ai mà hy sinh”. Cứ mỗi năm mỗi lớn, lòng nhớ thương mỗi tăng dần khiến Lân phải đáp
máy bay tới Hongkong. Để có được cái cảm giác cùng cha đi chung một toa tầu, Lân đã lấy vé
xe lửa tới Quảng Châu. Lân chỉ muốn được thấy những gì ông Hoàng đã thấy năm mươi năm về
trước nhưng chàng vẫn e ngại vì biết chắc tất cả đã đổi thay với thời gian. Dù vậy, chàng vẫn
mơ được đi trên những tuyến đường mà ông Hoàng đã đi. Lân biết ước mong đó chỉ là ảo
tưởng. Nhưng khi ngồi trên xe lửa, quan sát toa tầu sao thấy cũ kỹ cổ xưa, ngó ra hai bên
đường sao trông cổ hủ lạc hậu. Có người hành khách đi cùng cho biết tuyến đường từ
Hongkong tới Quảng Chân không có gì thay đổi kể từ hơn năm mươi năm, ngay cả chuyến xe
lửa đương chạy cũng vẫn là chuyến xe của năm mươi năm cũ...
Gần đến trấn Thạch Long, trên toa Lân ngồi chỉ còn hai hành khách, một người đàn ông và
chàng. Người đàn ông mặc bộ đồ tây xám gợi Lân nhớ tới bộ đồ của ông Hoàng. Người đó ngồi
ngay trước mặt Lân, đang chăm chú đọc báo. Bỗng ông ta bỏ rơi tờ báo, gục xuống...
Lân đứng phắt dậy. Cha chàng đây mà. Ông Hoàng thỉnh thoảng vẫn ngất đi mỗi khi lên cơn
đau tim kể từ khi bị bọn thực dân Tây bắt và tra tấn tại nhà tù Vũ Bản hồi trước năm 1945 tại
Việt Nam. Lân sẽ làm hô hấp nhân tạo trong khi chờ đợi toán cấp cứu... nhưng... Lân vừa nắm
lấy tay cha, ông Hoàng bỗng tan biến vào hư vô...
Tiếng còi tầu lanh lảnh làm Lân chợt tỉnh, chàng nhoài mình ra cửa xe, ngó xuống. Tầu dần dần
chậm lại... xình xịch... xình xịch... ì ạch nặng nề, rùng mình thật mạnh trước khi ngừng tại một
ga nhỏ, trấn Thạch Long!
Khung cảnh buồn hiu hắt với những cây sấu cằn cỗi, lá lìa cành gần hết. Mùa thu đang tàn trong
bầu trời u ám, ảm đạm... Xa xa, những rặng tre ngà còn vương chút lá vàng...
Nhà quàn của thị xã nằm lẻ loi đơn độc gần đường xe lửa, tường vôi ẩm mốc, mái rêu phong,
trông nghèo nàn, tiêu điều, buồn tẻ. Nơi này, chính nơi này, ông Hoàng đã nằm chờ anh em tới
nhận xác. Lân xuống tầu, chạy như bay tới nhà quàn. Phòng khách tối tăm, lèo tèo vài chiếc ghế
đẩu cũ tróc sơn, một bàn gỗ mộc chân đã gãy, trống vắng. Ở góc phòng một cỗ quan tài đơn sơ
nằm chơ vơ lạnh lẽo, không hương nến. Lân tiến tới bên quan tài, nâng nắp hòm lên... Người
đàn ông trong bộ đồ tây xám, cha Lân đây, mặt mũi sưng vù, méo mó, đôi mắt nhắm nghiền...
trong khoảnh khắc, hình hài lại mờ ảo... Định thần, Lân không nhìn thấy gì nữa... chỉ mình
chàng trong căn phòng âm u, trống lạnh.
Lân đi ra ngoài, tìm đường tới nghĩa trang. Đây là khu đồng không mênh mông gần đường cái
quan, kế bên những thửa ruộng đã gặt chỉ còn trơ gốc rạ. Lác đác, vài ba bia mộ ngả nghiêng.
Bỗng Lân thấy những vệt lân tinh sáng lấp lánh từ một ngôi mộ bay ra. Lân nhắm ngôi mộ đó
tiến tới. Có phải vong linh cha về dẫn dắt chàng không? Trời chiều đã ngả bóng. Chiều thu trên
tha ma mộ địa không làm Lân rợn lạnh mà chàng chỉ thấy đớn đau nhung nhớ cha đang vò xé
tâm hồn. Hai lần gặp gỡ mà cha chàng khi ẩn khi hiện không một lời nhắn nhủ. Lân vẫn hy vọng
tại nghĩa địa hoang vắng này, tại nơi an nghỉ cuối cùng này, chàng sẽ được nghe lại giọng ấm
áp thân yêu. Lân quỳ xuống trước ngôi mộ. Nắng quái chiều hôm hiu hắt rớt trên tấm bia cũ kỹ,
nét khắc phai mờ vừa đủ đọc được những dòng chữ trong những tia nắng yếu ớt gần tắt lịm:
HOÀNG ĐẠO
Sinh 16/11/1907 - Mất 22/07/1948
Người Việt Nam
Yên nghỉ tại đây
Lân nghẹn ngào: “Cha ơi!”. Người đàn ông trong bộ đồ tây xám đứng trước mặt chàng. Bóng
chiều sẫm hẳn. Màn đêm đã xuống. Lân không thấy rõ mặt cha dù hai người chỉ cách nhau
trong tầm tay với. Ông Hoàng đứng thẳng. Lân quỳ dưới chân. Văng vẳng từ xa, giọng nói nhẹ
nhàng thân yêu: “Con cố hành động theo khả năng, theo lương tri... những gì có ích cho dân tộc,
cho nhân loại. Đừng ham danh vọng, giầu sang, phú quý. Đừng ganh ghét. Đừng kiêu ngạo.
Đừng sợ sệt. Ở tuổi con, ba không cần nói nhiều. Ngày nào còn tồn tại trên cõi đời, hãy vui vẻ,
hăng say sống... cho mình mà cũng cho người...”
Lân kêu lên: “Cha ơi! Con muốn hỏi...”
Ông Hoàng ngắt lời: “Con đừng nghĩ tới những điều không đáng chú trọng. Hãy tìm lấy chỗ
thoải mái, yên bình cho tâm hồn. Đó là hạnh phúc, con ạ!”
Bóng người cha nhạt dần... chỉ là khoảng không hụt hẫng... chới với... chàng ngã quỵ, đầu đập
lên bia mộ.
Lân sực tỉnh. Đồng hồ báo thức trên đầu giường rơi vào trán khiến chàng đau điếng. Có lẽ
trong cơn mê, chàng qườ quạng, vùng vẫy làm rớt cái đồng hồ. Cảm giác nhớ thương, mong
muốn gặp gỡ vẫn bóp nghẹt tim chàng. Giấc mộng tìm tới nơi an nghỉ của cha, Lân không thể
thực hiện được nữa. Đã năm mươi năm qua rồi, nước Tầu thay đổi, trấn Thạch Long cũng đã
đổi thay, khu nghĩa trang chốn cất ông Hoàng đã bị đào xới để trở thành vùng kinh tế mới.
Nắm xương tàn của cha chàng còn biết ở đâu? Thân cát bụi lại trả về cát bụi...
Hôm nay là ngày giỗ ông Hoàng. Ngày giỗ thứ năm mươi. Cộng đồng người Việt miền nam
California tổ chức lễ truy niệm, tưởng nhớ tới một người suốt đời đã hy sinh cho chính nghĩa,
cho dân tộc. Lân buồn rầu vì chưa làm được những gì chàng mong ước theo ý hướng cha. Lòng
kính yêu người cha quá cố vẫn rào rạt trong tâm khảm. Lân chỉ gặp lại cha trong giấc mơ... vẫn
còn nhiều giấc mơ nữa... vì tình nhớ thương không bao giờ phai nhạt.
Kính tặng vong linh CHA nhân ngày giỗ thứ năm mươi.
Ngày 22, tháng 7, năm 1999
Huyền
uyền chống tay nhìn qua khung cửa sổ, lặng ngắm bụi mưa lất phất bay tạo thành một đám
H sương mù trong một buổi chiều buồn, một buổi chiều cuối thu tại Hoa Thịnh Đốn. Nàng
mới nhận điện thoại của Hùng, một thanh niên trẻ tuổi, tầm thước, có đôi lông mày rậm và
cặp mắt đen. Nàng quen chàng trong một tai nạn xe hơi... nàng đã tông vào phía sau xe Hùng.
Ngay từ phút đầu gặp gỡ, anh chàng trẻ tuổi đã bị thu hút bởi người đàn bà gây ra tai nạn, và dĩ
nhiên, Huyền chẳng phải bồi thường. Không những thế, Hùng đã trở thành một người thân cận,
một hộ tống viên, cũng chưa phải, đúng ra là một cậu nhỏ dễ sai bảo của Huyền. Để bù lại,
Hùng có thể đến thăm Huyền bất cứ lúc nào, có thể vòi vĩnh Huyền làm cơm ngon cho ăn... và
có thể... còn nhiều thứ khác nữa... Huyền biết anh chàng trẻ tuổi đang si mê nàng, con mồi đã
mắc bẫy! Thật sự, Huyền thích một người đàn ông cứng cỏi, che chở bảo bọc nàng hơn là một
chàng trai mới lớn tính còn con nít, háo thắng. Hơn nữa, Huyền cười một mình, anh chàng lại
hay ghen, hơi một tí là giận dỗi. Nhưng dù sao, nàng vẫn chấp nhận dù Hùng còn nhỏ tuổi hơn
nàng, dù Hùng không có kinh nghiệm trong trường đời. Huyền đang cần một người đàn ông. Đã
ba đời chồng, nói đúng ra là già nhân ngãi, nàng không muốn tùy thuộc vào ai với những bổn
phận, trách nhiệm của người đàn bà Á Đông, nàng có tham vọng và đang cần danh vọng... Cuốn
phim dĩ vãng quay lại với những đoạn chính trong đời nàng...
Gia đình Huyền đông con có tiếng tại Gia Hội. Bố mẹ nàng có với nhau hai mươi mặt con. Kể từ
ngày người con trai đầu mất đi, mẹ Huyền sòn sòn năm một mười tám cô con gái với hai cặp
song sinh. Mẹ Huyền uất ức vì bà nội tuyên bố nếu con dâu không có con trai nối dõi, cụ sẽ lấy
vợ bé cho bố Huyền. Vì thế, với ý chí sắt đá cương quyết và sức chịu đựng dẻo dai của người
phụ nữ xứ Thần Kinh, hai mươi năm sau ngày cậu cả mất, ông bà có thêm cậu con út kế tiếp
mười tám cô. Huyền là con gái thứ ba, nàng trông dịu dàng, yếu đuối dễ làm mềm lòng những
đấng tu mi nam tử; giọng nói của Huyền trong vắt, nhẹ nhàng. Nàng còn có vẻ mực thước, thùy
mị, hơi lãnh đạm ra dáng con gái Huế. Vóc dáng thon mảnh, gầy yếu dễ khơi động lòng thương
nơi người đối diện. Khuôn mặt trái soan, cằm nhọn, mũi nhỏ, miệng xinh khoe đôi hàm răng
nà nuột, đôi môi tươi mọng nhưng hơi mỏng là tướng của người có khả năng thuyết phục, ăn
nói lưu loát, nhưng cũng là người biết đẩy đưa, biết dối trá. Đôi mắt nàng trong sáng màu hạt
dẻ trông đầy vẻ dễ thương ẩn dưới cặp chân mày cong vút, ánh mắt khi thì lạnh lùng khi thì
nũng nịu, có sức thu hút nhưng ẩn hiện đâu đây tâm tình của một con người bạc bẽo. Thầy
tướng nói thế, phần Huyền, nàng chỉ thấy nàng là con người trọng nghĩa, biết hy sinh và dám
làm tất cả những gì nàng thấy nên làm. Tính này, nàng thừa hưởng của mẹ, người đàn bà kiên
trì và sắt đá. Vẻ dịu dàng bên ngoài Huyền giống cha, một người đàn ông bình thường, yên
phận, thương yêu gia đình và nể vợ.
Trong nhà, Huyền rất được cha thương yêu. Cha chiều nàng nhất trong mười tám cô con gái.
Từ bé, nàng luôn luôn ngủ với cha. Nhưng tính Huyền cắc cớ, nàng thích nằm trên đầu giường.
Lúc ấy Huyền đã bảy tuổi, nhưng nàng vẫn còn tật đái dầm. Một đêm, nàng trút cả “bầu tâm sự”
lên đầu bố. Cha không phàn nàn, không la mắng, lo tắm rửa cho con và cho bản thân rồi lên
giường ngủ tiếp. Sáng thức giấc, một cô nào trong đám chị em mách mẹ. Bà gọi Huyền lên rầy
la. Huyền cãi mẹ hăng đến nỗi bà cả giận, vớ lấy chiếc ghế đẩu ném về phía Huyền. Huyền cũng
ghê gớm không kém, thay vì né tránh, nàng giơ chân đá chiếc ghế. Thế là lần ấy, Huyền bị nứt
xương ống chân. Nàng hận mẹ, và mẹ nàng cũng ớn nàng. Trong đám chị em, chỉ một mình
Huyền là làm cho mẹ sợ. Tính mẹ cương cường, và Huyền cũng không kém. Cha chỉ cười hiền
hòa và nói “mẹ nào, con nấy”. Vì tính giống nhau nên không ai nhịn ai, và khó ưa nhau. Huyền
làm mẹ mất mặt với bà con chòm xóm bằng cách ra đường ăn mặc bệ rạc, rách rưới. Mẹ đông
con, không có thì giờ để ý đến từng đứa. Thảng hoặc, có người nói tới tai mẹ, bà lại lôi Huyền ra
mắng nhiếc, Huyền càng ghét mẹ, càng làm già. Trong mười tám cô, chỉ có Huyền kết bạn với
bọn ăn mày trong thành nội. Huyền muốn làm xấu mẹ, nhưng vẫn nghĩ mình có tinh thần xã
hội cao. Trong nhà, vừa đông người, vừa nhiều gà. Bà nội chỉ mang cho Huyền một đôi gà mái
tơ và một con gà trống mà chỉ hơn một năm sau, gà mẹ, gà con đầy vườn. Chúng xâm lăng vào
trong nhà. Chị em Huyền, nhiều đứa phải ngủ với đám gà con, trứng gà la liệt khắp nơi. Đừng
nói gì ngoài vườn, trên giường ngủ của các cô, gà mái làm tổ, ấp trứng ngay trên nóc mùng,
trên đầu giường, trong chăn nệm. Nhiều sáng thức giấc, mấy cô em nhỏ khóc hu hu vì mặt mày,
đầu tóc bê bết đầy lòng đỏ, lòng trắng trứng gà. Huyền phải xin lỗi chí chết và hứa săn sóc kỹ
lưỡng đám gà con mới nở.
Vì nhà nhiều gà và trứng như thế nên Huyền dẫn đám bạn ăn mày về khoe. Năm ấy, Huyền đã
mười hai tuổi, đứng đầu bọn “cái bang” thành nội. Khi Huyền và bọn trẻ con rách rưới vào tới
sân, mẹ đương chơi đánh xệp cùng mấy bà bạn. Huyền vào thưa mẹ để xin bà cho các bạn ăn
cơm trưa cùng gia đình. Đang ham chơi bài, mẹ ừ hữ. Chừng hết canh bạc, bà đứng dậy xuống
bếp bảo u già nấu cơm mới té ngửa người vì bọn bạn Huyền, gần hai chục mạng bẩn thỉu la hét,
chửi thề vang một góc vườn. Giận quá, bà cầm thanh củi tạ, chạy ra sân vừa quơ lên dọa nạt
vừa to tiếng xua đuổi tụi ăn mày ra khỏi nhà. Mẹ to lớn, mạnh mẽ, đúng là hung thần của “cái
bang”. Huyền vội vã leo lên nóc nhủ, hét vọng xuống:
- Mẹ ngưng tay! Các bạn con vô tội. Mẹ đã hứa cho chúng ăn thì phải giữ lời hứa. Mẹ không giữ
lời hứa là làm nhục con. Con sẽ nhảy từ trên mái nhà này xuống chết quách cho rồi!
Bà đành chịu thua vì biết tính con. Huyền giống mình chứ giống ai, bà tự nghĩ, nói là làm,
không cần tới hậu quả. Nhưng một bữa, bà không chịu nổi tính tai quái quá quát của Huyền...
khi bà vừa bước chân vào cổng, bà rợn da gà vì tiếng chó oăng oẳng kêu la; rên rỉ... Chạy vội vào
sân trong, bà khựng lại vì cảnh vừa tức cười vừa tội nghiệp trước mắt: mẹ bà, lúc ấy đã bảy
mươi, đang ngồi chồm hổm với một thau nước ấm, loay hoay rửa phần dưới bụng của hai con
chó đang “dính lẹo”, con vàng của nhà và con vện bên hàng xóm. Thấy bà, ngoại than: “Con
Huyền nghịch ác quá!” Rồi, ngoại kể: hai con chó, một đực, một cái, đang mây mưa một cách
say sưa, quên đời... thì Huyền lấy vôi trộn với nước và trát ngay trên bụng hai con chó đáng
thương đang cong mình oằn oại làm tình. Chỉ vài phút sau, vôi khô, bó chặt hai bộ phận sinh
dục dính cứng lấy nhau. Lúc ấy, hai con chó đã xong việc, con vện muốn rút ra cũng không
được nữa. Hai con vật càng vùng vẫy, giằng co, càng bị cột chặt. Chúng chỉ còn biết tru lên đau
đớn. Ngoại phải pha nước ấm, vã vào bụng dưới của chúng, gỡ từng miếng vôi...
Đến nước này, bà biết không thể răn dạy được con. Cuối cùng, bà đề nghị với chồng đưa Huyền
vào chùa Trà Am tạm một thời gian; may ra trong cửa Phật con bé dần dần thuần tính. Ông
không nghĩ vậy, tính Huyền như thế... sẽ vẫn như thế. ông dạy con rất dịu dàng với sự thương
yêu chân thành; Huyền thương cha lắm, nhưng ông có sửa đổi được nàng đâu! Chẳng nhẽ ông
nói với vợ: “Tính con bé giống hệt tính bà!” Còn nhớ, khi thằng con trai đầu lòng mất, vợ ông
tiếp tục đẻ toàn con gái; mẹ ông có ý định lấy vợ lẽ cho ông để kiếm một mụn con trai! Biết vậy,
vợ ông tức khí đẻ liên tục cho tới đứa cuối cùng là... một thằng cu mới chịu ngưng! Để trả thù
mẹ chồng, vợ ông khi sanh tới cô gái thứ mười ba đã khai sinh cho con một cái tên chẳng ai có
“Huyền Tôn Nữ Cà Thọt”. Chẳng là mẹ chồng khi xưa bị trâu điên húc nên khập khiễng bước
thấp bước cao, đứa bé gái đó lại giống bà nội nhất nhà! Nghĩ chán, ông đành chiều ý vợ cho yên
chuyện. Thế là Huyền được đưa tới chùa Trà Am.
Huyền hí hửng theo ngoại tới chùa, cô bé sắp có một cuộc sống mới, đối với cô bé nó thật hấp
dẫn và quyến rũ. Thầy Tịnh Tâm, sư trụ trì chùa Trà Am năm ấy đã ngoài bảy mươi nhưng vẫn
còn khỏe mạnh và minh mẫn. Ngoại là vãi lâu năm tại chùa, Phật sự một tay bà lo liệu. Bà trình
bầy tự sự với thầy Tịnh Tâm với ý gửi gấm Huyền cho thầy. Thầy nhìn Huyền đăm đăm, nở
một nụ cười nhân hậu:
- Bà muốn gửi cháu, nhà chùa sẵn sàng nhận. Nhưng thầy không dám đoan quyết cái tính nết
cô bé này đâu. “Nhân vô thập toàn”, ngỗ nghịch vậy chứ thông minh lắm đấy. Mai này, biết đâu
với tính cang cường như vậy mà lại làm nên việc lớn. Thầy chỉ nói thế rồi bảo tiểu dọn phòng
cho Huyền.
Bà ngoại dặn dò Huyền những gì không nên làm trong chùa. Những lời này được nhắc đi nhắc
lại cả chục lần từ ngày mẹ có quyết định nhờ ngoại gửi gấm cô bé trong chùa. Lời nói của ngoại
từ tai này qua tai khác bay ra ngoài không gian. Lòng Huyền xốn xang xen chút hí hửng về nơi
ở mới dù chùa Trà Am đã quá quen thuộc vì tuần nào ngoại cũng dẫn cả đoàn cháu đi lễ Phật.
Bà ngoại về rồi, Huyền vội chạy ra sau chùa. Cô bé đứng lặng trước tàn khế lả ngọn trên mặt ao.
Cây khế sai trái nhưng chẳng bao giờ thấy quả ngọt trên cành vì trẻ con trong vùng, kể cả đám
chị em Huyền chiếu cố tận tình nên sư sãi trong chùa tưởng cây chỉ có hoa đực.
Trong chùa Trà Am, ngoài thầy Tịnh Tâm, hai sư bác, còn có chú tiểu Nhi cũng trạc tuổi Huyền.
Huyền rất thích chọc ghẹo chú tiểu này. Mấy bà vãi thường hay mang lén nếp và men rượu tới
ủ tại một góc kín dưới bếp mà mấy thầy không hay. Chỉ ở có ba hôm, Huyền đã mò mẫm ra chỗ
giấu rượu.
Một bữa, thầy trụ trì và hai sư bác phải đi tụng kinh cho một đám tang ở xa tới tối mới về. Cơm
chay đã nấu sẵn để ở dưới bếp. Thầy dặn dò chú tiểu và Huyền cứ ăn uống trước, không cần
phải đợi các thầy. Người lớn đi hết, trong chùa chỉ còn có Huyền, chú tiểu Nhi và một con chó
mực. Huyền rủ tiểu Nhi ra đồng chơi bắt dế, chọi dế. Mặt trời ngả bóng, cả hai mới về chùa, lục
cơm ăn. Huyền vào chỗ giấu rượu , lấy rượu nếp trộn lẫn với cơm trắng vào hai bát, một cho
chú Nhi, một cho con mực. Chú Nhi đói bụng, lạ miệng, loáng một cái hết tô cơm rượu một
cách ngon lành. Con mực lúc đầu còn hửi hửi, quay đi, rồi đói quá, quay lại ăn sạch nhẵn tô cơm
rượu.
Sau bữa cơm, Huyền ôm bụng cười thích thú vì chú tiểu Nhi mặt đỏ như gấc đi khuệnh khoạng,
chân nam đá chân xiêu, tay bất ấn, miệng lải nhải tụng kinh. Còn con chó chạy lồng lên như
ngựa chứng. Đúng lúc ấy, thầy và hai sư bác về đến chùa. Trước cảnh tượng này, hai sư bác
luống cuống, riêng thầy vẫn bình tĩnh khiến một sư bác pha nước chanh cho tiểu Nhi uống, rồi
dìu chú vào phòng; một sư bác pha nước gạo cho con mực và xích nó vào một cây cột trước
tam cấp. Sau đó, thầy ôn tồn hỏi Huyền: “Con lấy rượu ở đâu cho chúng uống?” Huyền phải
khai sự thật. Từ ngày đó, mấy bà vãi không còn dám giấu rượu trong chùa.
Ngày lễ Vu Lan tới, trong chùa trăng đèn kết hoa, nam thanh nữ tú, ông già bà lão, con trẻ tụ
tập tại chùa. Chôn Thiền Môn nhộn nhịp, và Huyền cũng hứng khởi vui tươi. Đúng chính Ngọ,
thầy làm lễ. Khách thập phương tháo giầy, đi chân đất vào chánh điện dự lễ và nghe thầy giảng
kinh. Giọng thầy vang vang trong máy vi ám. Những cặp mắt đổ dồn về phía thầy, những đôi tai
trang trọng lắng nghe... không ai để ý tới cô bé nghịch ngợm trước chánh điện. Huyền tìm một
bao nylon lớn, dồn giầy dép của khách thập phương vào, vác ra cầu ao, trút tất cả xuống nước.
Đi chừng năm chuyến, cô bé làm xong công tác phá hoại, hoàn tất một trò chơi tinh nghịch.
Sung sướng, Huyền vào phòng nằm ngó mông lung qua khung cửa sổ, ngắm khoảng trời xanh
biếc cho tới lức những tiếng ồn ào, la ơi ới, hoảng hốt từ chánh điện vọng xuống...
Huyền đã chán cảnh chùa, chán chú tiểu Nhi, Huyền nhớ bố, nhớ đám chị em trong nhà, nàng
chỉ mong về lại gia đình. Trò chơi của nàng đã đưa nàng tới đích. Thầy Tịnh Tâm đã sợ những
trò nghịch ngợm tinh ma, nhắn ngoại lên đón Huyền về.
Tới nhà, gặp mẹ, bà không nói năng gì, bà đành chịu thua cô con gái cứng đầu cứng cổ. Huyện
ưa ngọt, song bà không quen và cũng không có thì giờ để ngọt ngào với Huyền, đành cứ để
nàng sống tự do, lớn lên như cây cỏ. Những lúc hàng xóm láng giềng phiền trách về đám con
gái của bà do Huyền cầm đầu, bà chỉ còn nước xin lỗi. Như bữa trước vào một ngày mưa, mà
Huế thì mưa dầm dề suốt tháng, đám chị em Huyền cả thẩy mười ba cô tô hô tôi tắm trong ngõ
nhà bà tham Chương vì nhà bà này có dãy ống máng bên hông. Năm ấy Huyền đã mười lăm
tuổi, vẫn là đầu đàn của đám em tồng ngồng chạy rông ngoài phố mưa tầm tã. Nhà bà tham
Chương có hai cậu con trai trạc tuổi Huyền, nhút nhát e lệ, cứ thấy đám chị em Huyền là lẩn
tránh. Nhưng, vào những hôm trời mưa, hai cậu tuy sợ nhưng thú thích, nấp sau rèm cửa lén
nhìn đám con gái nô rỡn trước nhà. Bị bà mẹ bắt gặp quả tang, bị cây phát trần quắn đít, hai
cậu đổ tội cho đám con gái tới chọc ghẹo. Những lần như vậy, bà tham Chương tới mách, mẹ
Huyền lại bực tức và buồn rầu.
Năm hai mươi tư tuổi, Huyền mới gặp Trác. Trác lúc đó là sinh viên năm thứ ba trường thuốc,
Trác bị lôi cuốn bởi vóc dáng mảnh mai, bởi giọng hát trong trẻo, bởi nụ cười tinh nghịch, bởi
cặp mắt màu hạt dẻ lãnh đạm và nhất là bởi tính gan góc của Huyền. Trác mới hai mươi lăm
tuổi, chàng cũng hiếu thắng như những chàng trai trẻ khác, cũng thích chinh phục những bông
hồng có gai sắc nhọn nên đã đeo đuổi Huyền.
Một chiều tà trên đồi Vọng Cảnh, trong tiếng gió vi vu giữa những hàng thông xao xác, Trác
mạnh dạn nắm tay Huyền tỏ tình. Huyền ngỡ ngàng vì từ trước đến nay, nàng là người chủ
động, và nàng cũng chưa từng nghĩ tới yêu đương tình tự. Nàng thích chọc quê những cậu trai,
đùa cho thỏa, thế thôi. Lần này, nàng từ ngỡ ngàng ngạc nhiên đến rung cảm xúc động. Nàng
cũng thấy thinh thích Trác, một loại người khá lì lợm, đầu tóc bù xù, râu mọc lởm chởm, lê đôi
dép món vẹt dơ dáy. Nàng thấy hay hay, nàng thấy chàng tự nhiên, nàng thấy chàng phóng
khoáng, và... nàng bắt đầu thấy nhớ thương... Trác còn nặng lời thề thốt cải lương một cách
đáng yêu rằng khi nào không còn mặt trời trên thế gian này thì tình chàng mới dứt. Huyền tin!
Chiến tranh làm con người thêm chai đá. Huế đau thương với giải khăn sô năm 1968 làm tuổi
trẻ nơi chị em Huyền thui chột. Huyền không sao quên được cái ngày gia đình tản mát, tan tác
trong lửa đạn. Cái cảm giác của đôi bàn chân dẫm lên xác người ngoài đường phố, bên bờ ao,
dưới ruộng sâu mãi mãi đeo đuổi nàng, ám ảnh nàng. Dù gan góc đến đâu, dù lì lợm đến đâu,
Huyền cũng không khỏi bật khóc, hoảng hốt trong những cơn ác mộng. Biến cố Mậu Thân chưa
nguôi trong lòng người dân cố đô... thì... đại tang của đất nước lại ập đến cho người dân Việt từ
con sông Bến Hải trở vào, ngày 30 tháng 4 năm 1975, Cộng sản tóm thâu toàn quốc. Cha Huyền
cũng như những sĩ quan trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa khác, lên đường đi học tập. Ngày
chia tay, Huyền cảm thấy tim nàng như bị một bàn tay thép bóp nghẹt, nàng linh cảm từ nay
phải vĩnh viễn chia lìa người cha thương yêu. Cha ôm hôn từng đứa con, đến lượt Huyền, ông
nghẹn ngào: “Cầu Phật phù hộ cho con. Con cố dưỡng tâm, con hỉ?!” Huyền nức nở, người mà
Huyền thương yêu nhất, người bảo bọc che chở cho nàng thôi đành xa lìa...
Năm năm sống với Cộng sản, gia đình Huyền cũng như những gia đình khác, ngày một sa sút.
Bố đã ở trong tù, mẹ không còn mối Mỹ bán buôn, chạy ăn từng bữa. Sáu cô trong đám chị em
phải bương ra đi làm, Huyền đi dạy học. Hai chị lớn lại trở về mái nhà xưa vì hai ông anh rể
trong lực lượng đặc biệt đều nằm trong trại cải tạo. Năm năm sống với Cộng sản, Huyền học
được tính chịu đựng và học được cả tỉnh lọc lừa rất tự nhiên.
Ngày cùng Trác vượt biển ra đi, Huyền chỉ cảm thấy xót xa nhớ bố, nhưng đến lúc nằm trong
khoang thuyền tròng trành giữa đại dương, nàng mới thấy thiết tha nhớ mẹ. Thế rồi nàng ngất
đi vì mệt, vì kiệt sức. May mà Trác đã thủ sẵn một túi thuốc, chích cho nàng hồi tỉnh. Rồi hai
người cùng thoát, cả hai được đưa về vùng Iowa giá lạnh, sống với một cặp vợ chồng Mỹ còn
trẻ cũng trạc tuổi họ, bảo lãnh họ. Trác khai Huyền là hôn thê của chàng nên hai người được ở
chung một căn phòng. Trác nghiện thuốc lá nặng nhưng không đủ tiền mua thuốc nên vào
những ngày đầu mới đến, Huyền phải lượm lặt từng penny mua thuốc hút cho chàng. Dù tuyết
phủ kín đường, dù giá rét căm căm, dù bị phong thấp đau nhức khớp xương, Huyền vẫn lặn lội
trong mưa tuyết ra xa tít ngoài phố mua thuốc hút cho Trác vì chàng ngượng cầm một bịch
pennies trong tay xỉa ra quầy trả. Huyền và Trác cùng ghi tên học tại Đại học Cộng Đồng của
thành phố Iowa. Đời sống êm đềm cho đến ngày hai vợ chồng người sponsor cãi lộn, rồi xa
nhau. Trác thường chở người vợ đi làm vì anh chồng đã dọn ra ngoài, Huyền không để ý, vẫn
sống tự nhiên cho đến một ngày Trác vắng nhà, người vợ gọi Huyền vào phòng riêng và cho
nàng biết cô ta sẽ sống luôn với Trác. Tự ái nổi dậy, Huyền không cần chờ Trác về, nàng thu
xếp mấy món quần áo cũ, bỏ vào một túi xách nhỏ, thất thểu ra đi. Nàng biết khu chung cư
dành cho những người nghèo, nàng nhổm hướng đó tiến bước...
Lawrence Washington hiện là manager của chung cư Hudson thuộc chính phủ, chung cư cho
những người nghèo. Larry là một người da đen to lớn, môi dầy, mắt ốc nhồi, tóc quăn tít nhưng
dáng dấp trí thức và lịch sự. Tiếng gõ cửa nhè nhẹ khiến Larry ngưng làm việc, ngẩng đầu lên.
Trước mắt Larry là một cồ gái Á Đông vóc đáng gầy yếu, xanh lướt, run rẩy khiến anh vừa ngạc
nhiên vừa thương hại.
- Có chuyện gì vậy cô?
- Tôi muốn xin một căn trong khu chung cư Hudson!
Giọng nói trong, thanh, cao vút và ẩn chút nửa kiêu kỳ nửa bất cần đời khiến anh chàng da đen
chú ý.
- Cô có giấy giới thiệu không? Tôi...
 





