Hoa hậu Hoàn Vũ Việt Nam 2017 H'hen Niê đọc sách tranh Sóc con đi học
Chào mừng quý vị đến với website của
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Thuần phong mỹ tục Việt Nam

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Trần Thị Hạnh
Ngày gửi: 16h:11' 12-07-2025
Dung lượng: 592.4 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Trần Thị Hạnh
Ngày gửi: 16h:11' 12-07-2025
Dung lượng: 592.4 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Table of Contents
Thuần Phong Mỹ Tục Việt Nam - Sơn Nam
Quan
Hôn Lễ
Lễ Giạm
Lễ Hỏi
Lễ Thành Hôn
Tang Lễ
Lễ Giỗ
Việc Tế Lễ
Bàn Về Nguồn Gốc Của Tế Lễ Ở Đình Xưa
Diễn Tiến Của Lễ Kỳ Yên
Lễ Xây Chầu
Phụ Lục
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
Thuần Phong Mỹ Tục Việt Nam
Sơn Nam
Lời nói đầu
Ngày nay ta gọi nếp sống văn hóa mới; thời xưa, gọi "thuần phong mỹ tục", nôm na là ăn ở
"lịch sự" Lịch sự là nhan sắc bề ngoài nhưng còn chỉ cách ứng xử với người trong gia đình,
dòng họ, xã hội sao cho đúng phép tắc, lễ nghĩa. Ở Chợ Lớn, từ thời Tự Đức về trước, có
làng Minh Hương, nhằm qui tụ người Hoa lai Việt. Hương chức làng được quyền thu thuế,
nạp cho cấp trên đúng thời hạn, ngoài ra, phân xử những kiện cáo lớn hỏ, đặc biệt là các
ông kỳ lão do dạy dỗ người trong làng về quan ,hôn, tang tế. Bấy giờ có câu ca dao:
Gỏi chi ngon bằng gỏi tôm càng,
Đố ai lịch sự bằng làng Minh Hương.
Trong những làng xã đã định hình, đạc biệt ở đồng bằng sông Hồng, thời trứơc có "Hương
ước", đại khái, một kiểu lệ làng qui định xử phạt những ai ăn ở ngỗ nghịch, không tuân lệnh
cấp trên, ăn nói thô tục, không tương trợ người củng thôn xóm, ngạo mạn với thần thánh.
Lịch sự, thuần phong mỹ tục được cụ thể hóa với nghi thức tối thiểu. Ngày Tết, việc thắp
nhang trước bàn thờ tổ tiên vẫn cần nghi thức tối thiểu, thí dụ như mặc áo gài nút, mặt mày
sạch sẽ, đành rằng cái "tạm" (tấm lòng) là nội dung quyết định, nhưng cái tâm phải được
bộc lộ ở hình thức tối thiểu. Chẳng lẽ trong nhà gặp tang khó, người chịu tang khóc lóc, đau
khổ nhưng lại mặc quần ngắn. Khi thăm viếng bạn bè ai lại để đầu bù tóc rối, quần áo xốc
xếch. Ngày Quốc lễ, chẳng lẽ nhớ Tổ quốc nhưng nhà cửa không quét tước?
Tập biên khảo này soạn ra nhằm mục đích góp ý vào quan niệm "nếp sống mới", không làm
sao chép những nghi thức phức tạp trong sách vở thời xưa mà chưa ắt thời xưa có người
thực hiện đúng, họa chăng là kẻ quyền quí tột bậc. Thật ra, phong tục, nghị lễ tự nó đã biến
đổi chậm hay nhanh, trước sự biến đổi của kinh tế, nhất là khi tiếp xúc với Tây Phương, thời
tư bản chủ nghĩa. Chẳng còn mấy người đàn ông mang cái búi tó! Trai gái gặp nhau, theo
ca dao thì mời miếng trầu. Đó là dĩ vảng. Cô gái ra đường đội nón quai thao, mang yếm
thắm, hoặc mang vòng vàng quá nhiều, mặc áo tứ thân chỉ còn thấy trong truyện dã xử,
trong bức tranh sơn mài, hoặc hội diễn áo quần qua các thời đại, nhắc nhở nhớ nguồn. Đám
tang ngày nay chẳng ai đủ thời giờ, khả năng, và phương tiện vật chất để làm đủ lễ như
xưa. Thời "mở cửa", của cải tạo xã hội, đổi mới, thiết tưởng ta nên hểiu nội dung của tục lệ
xưa, rút ra vài nét cơ bản: không có không được", rồi vận dụng linh hoạt tùy nơi thành thị,
chốn thôn quê, ở gia đình giàu hay nghèo.
Nhiều sách khảo cứu đã xuất bản, nhưng nội dung là hoài cổ, nói những điều mà ngày nay
chẳng ai thực hiện được, chẳng khác nào đề nghị cán bộ đi công tác nên nằm trên võng có
người khiêng, hoặc người trong quân đội nên trang bị như "lính thú thời xưa".
Nước ta chịu ảnh hưởng nghi lễ Trung Hoa trong thời gian khá dài, dựa vào sách Chu Lễ
(nghi lễ đời nhà Châu) qui định đến "300 điều Lễ nghi" (lễ nghi tam bách) thêm 3.000 điều
"Uy nghi". Nhưng trong thực tế, nói để mà nói, chưa ắt người xưa bên Trung Quốc, thậm chí
bậc vua chúa muốn thực hiện đủ huống gì khi đem vận dụng vào hoàn cảnh nước ta, với
nguồn gốc dân tộc, phong thổ, điều kiện khí hậu riêng, từ thời đại đồ đá, đồ đồng, Bình Ngô
Đại Cáo của Nguyễn Trãi đã khẳng định (theo bản dịch Trần Trọng Kim)
"Như nước Việt ta từ trước, vốn xưng văn hiến đã lâu. Sơn hà cương vực đã chia, phong
tục Bắc Nam cũng khác" (Bắc là nước Trung Hoa)
Theo cách nói thông thường, muốn giữ phong tục ta chú trọng bốn trường hợp cụ thể :
1/ Quan, theo nghĩa Gia quan (quan là cái khăn)
2/ Hôn (lễ cưới)
3/ Tang (việc ma chay, tống táng)
4/ Tế (việc tế tự ở đền miếu)
Nói cho rộng ra, nào phải riêng người Việt, người Trung Hoa mới chú trọng bốn vấn đề trên.
Các dân tộc khác vẫn có "quan", "hôn", "tang, "tế" nhưng họ dùng danh từ khác, cốt lõi vẫn
giống nhau. Không nên tự tôn hoặc tự ti về vấn đề này.
Chúng ta lần lượt trình bày từng vấn đề, thử đề nghị vài nguyên tắc "khả thi", có thể ứng
dụng được mà vẫn giữ nguyêntắc cơ bản "về nguồn", không ghi lại rườm ra những chi tiết
đâu đâu, nghe nói chớ chưa ai từng thấy. Đối tượng người đọc vẫn là đồng bào phần lớn ở
Nam Bộ, ở Sài Gòn, với vùng nội thành chen chúc và vùng quê đã ít nhiều bị "đô thị hóa"
trong kinh tế thị trường.
QUAN
Đúng ra, gọi lễ gia quan, "Gia" là thêm vào, không phải nhà cửa. "Quan", viết chữ Hán, là
cái khăn đội của đàn ông. Cái mào con gà gọi "kê quan", mào gà được xem như cái mão,
cái nón. Không phải "quan" là là làm quan. Nhiều người lầm lẫn, ngỡ rằng quan là "ông
quan", lể Gia quan là một kiểu "thăng quan tiến tước", được lên chức vụ cao hơn thì làm lễ
khảo htưởng!
Lễ Gia quan nay không còn, xưa khi chỉ dành cho nhà quyền quí, dòng họ tăm tiếng, nhiều
điền sản. Nôm na, gọi là lễ cho đứa con trai lớn lên, được 20 tuổi (tuổi ta) đội cái khăn xếp,
chứng tỏ nó đã trưởng thành, có thể cưới vợ, thay mặt cha mẹ quản lý gia tài, thừa hưởng
đất vườn hương hỏa. Khi được đội khăn, đứa trẻ đương nhiên phải mặc cái áo dài đen (áo
the) và đi đôi dép (kiều hàm ếch) cho đồng bộ.
Chọn ngày lành tháng tốt, nhờ người trưởng lão trong dòng họ hoặc trong thôn xóm đến làm
chủ lễ. Nhang đèn, hoa quả trần thiết trên bàn thờ, bà con tề tựu đông đủ, thêm một số
quan khách. Đứa thanh niên quì gối trước bàn thờ tổ tiên, người trưởng lão làm lễ "lên đèn"
đốt hai ngọn nến lớn, chắp tay trước mặt rồi mỗi tay giang ra, đưa cho hai người "trợ lý"
gắn vào hai chân đèn. Ông nói, đại khái:
- Con ơi, nay con lớn khôn ,bắt đầu từ hôm nay, phải gánh trách nhiệm trong gia đình, xã
hội. Phải biết tự trọng nuôi ý chí lập thân, học hành chăm chỉ. Người cha, hoặc ông kỳ lão
thay mặt cho dòng họ tuyên bố đặt tên 'tự" là tên chính thức của cậu trai. Như ta biết, hồi
cách đây vài mươi năm, ở miền quê, khi đứa bé chào đời, cha mẹ chưa đặt tên chính thức;
ăn đầy tháng, bèn đặt tạm một cái tên, thường là xấu, đềp hòng trường hợp ma quỷ rình
bắt những đứa mang tên đẹp. Đến 20 tuổi, ở gia đình khá giả, dịp lễ gia quan, lại đặt tên
chính thực, nào Khắc Cần, nào Trọng Phủ, nào Tế Xuyên . . Người Pháp đến, bắt buộc sau
khi đứa bé chào đời, phải làm giấy khia sinh lập tức. Vì vậy nhiều đứa bé mang tên xấu ghi
vào hộ tịch lúc còn nhỏ; lớn lên , muốn sửa đổi, thì ra tòa xin phép.
Có thể so sánh: Ngày xưa, lễ Gia quan tổ chức trong gia đình mang ý nghĩa như ngày nay
cậu trai đựơc quyền Công dân, được cấp Chứng minh nhân dân, về mặt pháp lý. Sách Lễ
Ký ghi, tạm dịch:
"Lễ Gia quan đứng đầu mọi lễ . . hoặc "Con trai đã lớn thì phải làm lễ đội mão và đặt tên,
ấy là đạo nên người trưởng thành vậy" (Tất quan nhi tự chi, thành nhân chi đạo dã).
Lễ Gia quan không phổ biến trong xã hội ta, nhưng thói quen gọi "quan" "hôn" "tang" "tế"
cho có vần điệu, nghe xuôi tai. Nhưng còn vấn đề nóng bỏng, trong thực tế xã hội ta ngày
nay, ấy là cái "khăn đen, áo dài" nên để hay nên bỏ?
Đặt vấn đề quá cứng như thế, khó trảl ời. Ta thử đi sâu vào chi tiết, trong hoàn cảnh xã hội
ta, từ Bắc chí Nam.
Trước tiên, nên khẳng định. Cái khăn đen (gọi là khăn đóng, khăn be hoặc khăn xếp, theo
ngoài Bắc) là nét đặc thù của ta. Theo tôi hiểu ,người Trung Hoa không xài kiểu khăn đen
như ta nhưng họ đội cái mão tròn, áp vào tóc, trên chóp có cái đuôi ngắn, giống như trái bí
cắt, chừa cuống.
Từ đồng bằng sông Hồng, khăn đen gọi là khăn xếp, may với loại vải the, rất mịn, gọi Gò,
hoặc Bùng, có lẽ vì là đặc sản về ngành dệt làng Bùng , quê hương ông trạng Phùng Khắc
Khoan, gọi là Trạng Bùng.
Đó là một giải khăn, hẹn về ngang, nhưng khá dài. Khi đội, làm nhiều động tác, đòi hỏi sự
nghiêm túc, quấn vào đầu đếm đúng bảy vòng, chừa cái ngấn để phân biệt từng vòng. Trên
đỉnh đầu, vì kỹ thuật búi tóc để lộ ra. Vấn khăn tốn thời giờ, nhằm nhắc nhở sự nghiêm túc,
cẩn thận khi đi đường, ứng xử với mọi người, không hấp tấp. Ra đường, phải "khăn áo
chỉnh tề" đi đứng khoan thai (không hấp tấp vừa đi vừa chạy); cũng như trong lời ăn tiếng
nói, nên lựa lời, kính trên nhường dưới, Khăn đi đôi với áo, trên nguyêntắc, khi giao tế,
không thể bổng nhiên vì nực mà tự tiện lột khăn ra. Hành động ấy quá vô phép, như trường
hợp khi vào chầu vua, luôn luôn giữa mão cánh chuồn. Mặc dầu ở trong cung điện, vua cũng
đội mão, khi ngồi trên ngai. Lột mão ra là chuyện chẳng ai dám nghĩ tới.
Thời pháp mới đến, đã xảy ra vài chuyện ngộ nhận. Tuy theo tân trào, đội nón nỉ (nón phớt)
hoặc nón Tây,, khi gặp quan trên, người hương chức làm việc cho Pháp vẫn quen đội nón,
tưởng rằng mình giữ đúng nghi lễ, cũng như khi vào nàh, vẫn đội nón. Theo Tây Phương, lột
nón ra, để đầu trần là biểu hiện của lòng tôn kính.
Một chi tiết: Chỉnh tề lúc giao tế, trên nguyên tắc vẫn là hành động với hai tay: Học trò dùng
hai tay để trao cái tập viết bài, quyển sáchcho thầy. Con dâu dâng trả cho chồng hoặc cha
mẹ chồng thời xưa vẫn là dùng hai tay; lúc xả, khoany tay cũng hai tay. Buổi tiếp xúc với
văn minh Tây Phương, người Việt vẫn giữ cái quán tính là bắt tay kiểu Tây Phương, với hai
bàn tay! Theo tôi, chẳng có gì mặc cảm, quê mùa cho lắm. Ngày nay, trong giới trẻ vẫn giữ
lệ ấy, dùng hai tay mà bắt tay một người lớn tuổi hoặc có chức vị cao. Trong cuộc đua xe
đạp, khi được trao giải, ta thấy người thắng cuộc, rất trẻ, dùng hai tay mà bắt tay vị đại
diện của chánh quyền, hồn nhiên.
Trở lại cái khăn đóng, khăn xếp. Như đã nói, thời xưa cái khăn này rất chắc, vì may nhiều
lớn và khá dài. Đọc lịch sử nước nhà, thấy ghi việc ông Hoàng Diệu thắt cổ tự tử khi giữ
không xong thành Hà Nội (chưa chi, kho thuốc nổ và cháy vì nội ứng). Phải chăng là ông
thắt cổ với dụng cụ sẵn có là cái khăn xếp, đội trên đầu, tháo ra như sợi dây. Ở Nam Bộ,
khăn xếp trở thành "khăn đóng", nghĩa là xếp sẵn, may lại, giữ những lằm xếp, khi cần, cứ
đặt lên đầu, không tốn thời giờ nắn nót từng lằn, thêm miếng vải phủ trên đầu, che toàn diện
mớ tóc. Dường như có sự phân biệt nhỏ, của địa phương: Ở đồng bằng sông Hồng, nhìn từ
trước, phía trán, lằn xếp nằm ngang như chữ "Nhất", trong Nam , thay vì chữ "Nhất", ta thấy
hai lằn gãy, giải thích là chữ "Nhân", con người đứng giữa trời và đất.
Nên dùng cái "khăn đen áo dài" làm quốc phục chăng? Câu hỏi nêu ra, rất cần thiết vì mỗi
dân tộc đều dùng quốc phục riêng và tự hào với quốc phục của ông cha, cải tiến chút ít.
Bốn ngàn năm văn hiến, chẳng lẽ văn hiến ấy không biểu hiện trong quốc phục thì biểu hiện
ở đâu? Vài người bảo "khăn đen áo dài" do phong kiến bày ra, thậm chí còn bảo là "biểu
tượng của Ngô Đình Diệm!" Thật ra cái khăn đen này có trước từ lâu. Trong thời đại công
nghiệp, giao lưu nước ngoài, theo tôi, nên định rõ trường hợp;
"Giáo tế phục", dùng trong lúc giao tế ở cơ quan, lúc lo việc hành chính, dĩ nhiên là kểiu Âu
phục, thắt cà vạt khi cần, mang giày. Nhưng dịp lễ hội dân tộc thuộc về truyền thống, ta nên
mặc "khăn đen áo dài" thoạt nhìn chưa quen mắt, luộm thuộm, nhưng lần hồi sẽ quen và
thấy là đẹp, nhất là đối với người hơn 50 tuổi, dịp đám cưới, thăm người già, dịp Tết, dự
đình đám hội hè. "Nếu ta xua đuổi cái tự nhiên, cái bình htường thì cái mà ta xua đuổi ấy sẽ
trở lại với ta rất nhanh" Tôi tin chắc trong tình hình hiện nay, trong khi tìm một hình ảnh cụ
thể để chứng minh bản sắc Việt Nam, thì khăn đen áo dài là hai món đầu tiên mà mọi người
đều nghĩ đến. ó đã còn đó, từ lâu, nếu ta chú ý. Dầu là theo Tây học từ sợi tóc đến móng
chân, ở Việt Nam, ta vẫn còn thấy cái áo tang, dịp cha mẹ, ông bà mất. Không thể nào may
cái áo vét tông với vải tang, thêm cái cà vạt với vải tang. Cái áo tang vẫn là kiểu áo dài đen,
gài nút một bên hông, vạt áo phủ đầu gối. và nếu giản lược, những người bà con xa gần
cũng vẫn phải vấn cái khăn tang trên đầu , dầu là con trai, theo hình dáng cái khăn đen ngày
xua.
Dịp ăn "lục tuần", bát tuần" cho cha mẹ ông bà, nhiều người bày ra kiểu áo lễ cho trẻ con
năm bảy tuổi: Áo dài, khăn đóng, xem đẹp mắt. Ta nên nhớ cái áo "vét" của Tây Phương
ngày nay cũng là sự sáng tạo của thời phong kiến, cắt ngắn vạt, cải tạo chút ít. Quốc phục
của nước nào cũng là di dản của thời phong kiến.
HÔN LỄ
Hôn lễ được xem như quan trọng hàng đầu, dính dấp trực tiếp đến việc nối dõi dòng họ,
sanh con đẻ cháu, để rồi dân đông, nước mạnh. Không riêng gì người Việt Nam, các dân
tộc trên thế giới đều đặt nặng việc "hôn lễ". Sinh ocn cái để bảo đảm tư hữu tài sản, thừa
kế huyết thống. Đó là quan niệm thời nông nghiệp, đánh dấu bước tiến quan trọng so với
thời ở hang động mà nam nữ ăn ở chung đụng, sống với săn bắn, hái trái, đào rễ cây mà
ăn, quần áo còn thô sơ, luật lệ không rõ ràng. Ở Đông Á, trên lý thuyết, việc "hôn lễ" ngày
càng phức tạp, định hình bước đầu đời nhà Chu trước Tây lịch. Lại giải thích dài dòng về
chữ Hán, chữ "Hôn" nguyên nghĩa là "tối", trời tối, Âm đến, Dương (ban ngày) sắp quan,
Âm và Dương gặp nhau. Lài bàn rằng thời xa xưa ấy, lễ hôn nhân cử hành vào buổi tối để
hy vọng đạt kết quả, Âm gặp Dương. Ngày nay, các nước đều xem việc "động phòng" là
trọng, phải cử hành vào ban đêm cho thuận lợi, đem chuyện âm dương ra để giải thích e
cường điệu.
Thời phong kiến , trong xã hội còn bị nông nghiệp chi phối nặng nề cuộc hôn nhân được qui
định chặt chẽ, lại có luật hôn nhân, luật gia đình trừng phạt những ai vi phạm, thí dụ như vấn
đề ly dị, lỵ thân , phân chia tài sản, thông gian. Nhu cầu to lớn thời nông nghiệp vẫn là tạo ra
người nối dõi. Vợ hiền lành, đủ "dung" công"ngôn "hạnh" nhưng không sinh con, hoặc chỉ
sinh con gái mà không sinh con trai thì quả là vi phạm chữ "hiếu"
Thời nông nghiệp, sinh con đông là điều may mắn? Con cái phải chăng là một dạng "sức
kéo" khi chưa có cơ giới? Con cái đông đúc, cha mẹ mặc nhêin được yên tâm khi về già,
may racó được vài đứa giữ được chữ "hiếu", phụng dưỡng cha mẹ. Con cái đông, quả là
thứ "lương hưu trí" khá bảo đảm, thời xưa, không nêu ra vấn đề an sinh xã hội, trợ cấp
người già, họa chăng vào dịp đầu năm, các quan hoặc nhà vua ban thưởng cho người già
non trăm tuổi chút ít tiền bạc, chiếc áo, gọi là tưởng lệ. Việc ở rể là lợi dụng sức lao động,
là dạng khai thác lao động. Ở thôn quê , ngày xưa, mặc nhiên bày ra lệ "tảo hôn" để người
cha yên tâm sẽ có cháu. Cô dâu lắm khi lớn tuổi, hơn cậu trai vẫn là tốt, để tiếp sức cấy
gặt. Nay thì khác. Hồi trước năm 1945, ở vài miền quê, thậm chí ở thành thị, nhiều người
còn hãnh diện được làm ông nội hoặc ông ngoại khi mới 40 tuổi. Lại chụp ảnh, bày tiệc
tùng, mừng rằng đã bảo đảm được sự nối dõi của dòng dõi, có phước hơn nhiều người.
Ngày nay nhiều người, vì nhiều lý do, tuổi hơn 40 mà chưa chịu cưới vợ. Hậu quả này rất tai
hại: Người cha làm ăn khá giả, sắm ruộng vườn, hoặc xây được nhà lầu, khi 60 tuổi, nhắm
mắt lại, tủi thân, chẳng biết tin tưởng vào đâu vì vợ còn trẻ, con trưởng nam mới mươi tuổi,
tương lai học hành về đâu? Tài sản về tay ai ?
Có sự hãnh diện chánh đáng là sống dai, và sống chung trong một mái nhà gồm có ông cố,
ông nội, cha, con cháu chắt. Bốn thế hệ đầy đủ, tương đối ấm no, chụp ảnh kỷ niệm, niềm
vinh hạnh của "Tứ đại đồng đường", cùng hiện diện trong một nhà, hoặc nhiều nhà ở gần
nhau.
Người cùng một họ được quyền cưới hỏi với nhau không" Phải chăng là loạn luân? Trên lý
thuyết (thông dụng), trên bàn thờ của gia đình thường là thờ người quá cố từ ba đời trước,
hoặc hai đời trước (cúng giỗ cho ông nội, ông cố ) là dứt. Ở những từ đường danh cho cả
họ, thường là thờ trở lên đời thứ tư mà thôi. Qua đời thứ năm, (đời ông sơ) mặc dầu cùng
họ Nguyễn, họ Lê nhưng xem như người dưng, cùng một họ vẫn có thể cưới hỏi nhau. Vả
lại, trong thực tế, thời Trịnh - Nguyễn phân tranh, sau những cuộc khởi loạn chống vua chúa,
để tránh nạn "tru di tam tộc" nhiều người đành thay đổi họ, dời chỗ ở thật xa để che giấu lý
lịch.
Việc cưới hỏi và nghĩ lễ mặc nhiên ngày càng thay đổi nhanh cho phù hợp với thực tế, để có
thể gọi là "khả thi". Kết hôn với người nước ngoài, ngày nay không thành vấn đề. Không
cưới hỏi nhưng sống chung, sanh con vẫn là hợp pháp. Ở nước ngoài, lại sôi nổi chuyện
cưới hỏi giữa người "đồng tình luyến ái", khó giải quyết!
Dưới đây, xin trình bày những gì đang diễn biến ở nước ta, trong sinh hoạt bình thường.
Việc cưới hỏi trong những gia đình theo đạo Thiên chúa, đạo Hồi . . nằm ngoài thẩm quyền
của người biên soạn.
Thử duyệt qua những gì người xưa để lại, vận dụng và đơn giản hóa vào tình hình nước ta,
để lấy đó làm chuẩn mục, tuân thủ những nguyên tắc cớ bản.
Ở nông thôn, thời phong kiến, trong cơ chế của hương chức hội tề cai quản về hành chính,
có một hoặc hai người đặc trách về nghi thức "quan" "hôn" "tang" "tế" gọi chung hương Lễ,
ông hương Văn. Người Pháp không chánh thức chấp nhận những chức vị nầy, nhưng mặc
nhiên ở vài miền quê, trước 1945 vẫn còn tồn tại, được nhiều người quí mến. Lại còn vài
người chuyên xem tuổi tác, ngày giờ cử hành hôn lễ rồi bàn bạc, gây phức tạp về tâm lý.
Thời phong kiến, chịu ảnh hưởng Trung Hoa, vài nhà lý luận bày lễ nghi rườm rà, rồi chê
khen, gây tốn kém vô ích, dựa vào sách "Lễ Ký" của Chu Văn Công, tức Chu Hy, một danh
nho đời nhà Tống. Chính ông Chu Hy này cũng đã giản lược những điều phiền phức từ
trước đời ông, nhưng xem lại, ngày nay, ta vẫn còn thấy rườm ra, "bày lắm trò".
Theo sách của Chu Hy, lễ thành hôn gồm có sáu lễ chính, ngoài ra, còn nhiều lễ phụ. Xim
chép lại cho vui:
1. Lễ Nạp thái - Đại diện nhà trai đến nhà gái, theo giao hẹn trước, mang theo một con chim
nhạn, loài chi nầy sống có nghĩa ưng ý nhau thì không bao giờ phản bội; con này chết, con
kia vẫn sống lẻ loi. Về sau, dùng hai con ngỗng, con đực và con cái , thay cho chim nhạn. Ở
Nam Bộ, khó kiếm cặp ngỗng, thông thường dùng cặp vịt mập mạp, con trống con mái. Có
người giải thích đó là biểu tượng chim uyên ương bay liền cánh, không bao giờ rời nhau.
Trường hợp chàng trai ăn ở lén lút với cô gái, không cưới hỏi, đàng trai phải đem đến đàng
gái một cặp vịt, gọi là "tạ lỗi". Lắm khi đàng gái giận hờn, không chịu nhận. thế là mặc dầu
tiếp tục ăn ở với nhau, chàng trai chẳng bao giờ được nhà gái xem như con rể.
2. Lễ Vấn danh - Lễ hỏi tên chính thức của người con gái và tên họ bà mẹ. Con gái có tính
tình, đức tính giống mẹ vì mẹ là người đào tạo trực tiếp , "Cưới gái chọn dòng, nuôi heo
chọn nái".
3. Lễ Nạp cát - Đàng trai đến nhà gái để xác nhận sự quyết tâm của mình, sua khi nhờ thầy
xem tuổi, chọn ngày lành tháng tốt.
4. Lễ Nạp trưng. - Còn gọi "Nạp tệ" . "Trưng" là chứng cớ, "Tệ" là tấm lụa, đem vóc lụa tốt
tặng cho nhà gái. Về sau, thay vì vóc lụa, có thể nạp số tiền.
5. Lễ Thĩnh kỳ. - Xác định lần chót ngày giờ tửc hành hôn lễ, nạp cho nhà gái nữ trang, nhất
là vải vóc, y phục cho cô dâu.
6. Lễ Thân nghinh - Rước dâu, đưa dâu. Gọi là lễ cưới chính htức. Thời xưa, còn bày ra
nhiều lễ phụ như cúng Tơ hồng, lễ Động phòng sau khi cưới, đôi vợ chồng phải trở về thăm
cha mẹ vợ, lạy bàn thờ, thêm quà cáp.
Bao nhiêu ràng buộc nhằm nhắc nhở cô dâu chú rể và hai họ thấy tầm quan trọng, ràng
buộc nhau. Muốn ly hôn, mặc nhiên hủy bỏ những gì đã tiến hành từ trước. Lễ cưới ngày
xưa diễn ra nhiều ngày. Muốn đủ sáu lễ, cũng phải đôi ba tháng. Thời nông nghiệp, độc
canh, sau vụ mùa, ai nấy rảnh rang chờ đến ăn Tết, hoặc sau Tết, chờ khi trời bắt đầu sa
mưa mới nghĩ đến việc gieo trồng. Ngày nay, làm ruộng tăng vụ, họ hàng bận việc riêng tự,
chẳng ai đủ thời tgiờ tham dự những lễ lộc tượng trưng như xua. Thời xưa, chịu sức ép về
dư luận. Lắm khi cô dâu chú rể chỉ thấy mặt nhau một đôi lần, vì cách xa làng tổng, lại phân
tích nào môn đặng hộ đối, theo dõi thói hư tật xấu của đôi vợ chồng tương lai. Lắm khi đàng
trai hoặc đàng gái dùng chiến thuật hỏa mù, hủy bỏ, danh dự cho được.
Trong dân gian, như đã nói để tiết kiệm thời giờ và tiền bạc lần hồi đơn giản hóa, chỉ còn ba
lễ, nói chung, phổ biến hồi trước năm 1945, khi nhà nông còn rảnh rang, lương thông tin,
phương tiện di chuyển còn chậm chạp khó khăn:
LỄ GIẠM
- Vai trò ông mai quyết định sự thành bại. Khi chàng trai và cha mẹ cậu ta đồng ý, bèn cậy
người mai có uy tín đến nhà gái. Mặc dầu bên gái đã biết và đồng ý ở mức tương đối, lễ
này rất cần thiết nhằm giữ thể diện cho nhà gái. Không mang theo qùa cáp gì cả, để tạo
không khí thân mật, ông mai cùng đi với đôi ba người bạn của mình, từng quen biết nhà trái,
lý tưởng nhất là cùng đi còn có đôi ba người bạn thân của nhà gái, để tạo ra sự thân mật từ
lúc đầu. Dĩ nhiên, phải báo tin trước. Nếu là chỗ thân mật mang theo ít quà tượng trưng,
như trái cây, hộp trà. Đã đến báo tin vui vẻ, xem như sự việc đạt yêu cầu được tám phần
mười. Trong buổi sơ giao này, cha mẹ đàng tai không đi theo.
Lễ Giạm còn gọi là lễ "Chạm ngõ", "Coi mắt", "Ra mắt" . . ngày nay gần như không còn
nữa. Trước khi giao ứơc sẽ thành hôn, thanh niên nam nữ ngày nay đã chung đụng dễ
dàng, quen sẵn nơi xí nghiệp hoặc cơ quan lân cận. Chưa kể đến dịp tiệc tùng, sinh nhật, đi
chơi Vũng Tàu gặp tình cờ hoặc có hẹn trước, lại còn những tụ điểm như khu phố, gặp nhau
khi giao thiệp cùng ngành nghề mua bán, trong lớp học nghề. Cha mẹ đôi bên có lắm dịp
gặp mặt nhau khi giao thiệp, làm ăn, thường là cha mẹ đôi bên đã tạm ưng thuận, chỉ còn
thắc mắc về sinh kế tương lai của đôi trẻ, về nhà cửa sau nầy, hộ khẩu . .. Ông mai chỉ còn
vai trò tượng trưng, lắm khi đóng vai trò ông mai "bất đắc dĩ" cho vui vẻ giữa người lớn tuổi
với nhau. Ngày xưa, có lệ ông mai được phần thưởng là cái đầu heo, nay nhắc lại cho vui.
Luật lệ ngày nay tôn trọng thanh niên nam nữ đã thành niên, việc cưới hỏi đôi khi lại không
được sự chấp thuận vui vẻ của cha mẹ. Vả lại, cha mẹ thích con cái ra riêng, sống tự lập, ai
đâu còn ruộng vườn mênh mông mà sợ chia gia tài. Tiền bạc, nhà ở quan trọng hơn.
Lễ Giạm hay Coi mắt này đã thay cho lễ gọi là "vấn danh" thời trước. Bỏ qua cũng không
sao.
LỄ HỎI
Đây là lễ quan trọng, thay cho lễ "Nạp trưng" hay "Nạp tệ" thời trước. Lễ hỏi, gọi nôm na
"Đám Hỏi", còn được gọi là lễ "Đính Hôn". Nếu hoàn cảnh cho phép, ngày nay ta có thể cử
hành thật đơn giản, trong vòng một hai tiếng đồng hồ mà gieo được dư luận tốt cho gia
đình, để rồi sau đó , đôi trai gái được khá nhiều tự do, nhưng cùng nhau xem xét, dạo chơi
Thảo Cầm Viên, chơi vườn cây ăn trái ở Lái Thiêu, đi công khai mà chẳng sợ tiếng tăm dị
nghị. Trong dân gian, gọi khôi hài là lễ "Bỏ hàng rào thưa", chàng trai mặc nhiên đã đặt cái
"hàng rào" không chặt chẽ lắm đối với người yêu, xem như đặc quyền cho mình, kiểu
"khoanh vùng", đất đã có chủ, nạp hồ sơ, chỉ còn chờ thời gian là được cấp giấy "xác nhận
chủ quyền".
Trong gia đình nề nếp khá rộng rãi, lắm khi nhà trai cử hành lễ nhỏ, khiêm tốn, tại bàn thờ
ông bà cha mẹ mình. Đại khái, người gia trưởng đốt nhang, khấn vái với nội dung:
- Hôm nay dòng họ nhà mình đến hỏi đứa con gái tên X, con gái của dòng họ Y cho đứa
con trai dòng họ mình là A. xin ông bà cha mẹ (gia tiên) chứng giám và vui lòng phò trợ cho
đôi trẻ được may mắn.
Nhà trai đến nhà gái, báo tin trước để nhà gái chờ đón. Lễ vật nhà trai mang theo gồm có
(nếu đủ khả năng):
- 1 khay rượu, phủ khăn đỏ. Màu đỏ là tượng trưng của Phước, may mắn.
-2 cái quả (một đựng cau trầu, têm sẵn) một đựng đôi bông (hoặc hai chiếc nhẫn cưới). đây
là loại quả nhỏ, cũng phủ khăn đỏ, thêm vài mâm (số chẵn) đựng rượu, mứt, bánh trà.
Họ đàng trai sắp hàng khi gần đến nhà gái một đại diện lớn tuổi, thường là ông mai đi trước
một mình, theo sau có người bưng khay trầu rượu (thường là thanh niên, chàng rể phụ cho
vững tay). Đằng gái cử người ra mời vào nhà. Ông mai trình bày lý do, xin phép cho chàng
trai đến làm lễ hỏi, xin đặt khay trầu rượu trên bàn, giữa phòng khách. Nhà gái cười vui, tỏ
lời ưng thuận bèn cử một người đại diện (không nhất thiết là cha cô gái) ra tận cửa để mời
đoàn nhà trai vào. Khi vào, nên tuân theo thứ tự: Lễ vật mang vào trước, như mâm rượu,
bánh, trái cây, sau đó mới đến ông mai, rồi người trưởng tộc đàng trai, thường là lớn tuổi.
Kế đến , chú rể, chú rể bưng cái quả đựng lễ vật (nhẫn cưới, hoặc đôi bông). Sau chú rể là
rể phụ bưng khay trầu tượu. Đôi đèn sáp là quan trọng, tự tay chú rể bưng, đặt lên trên cái
quả vừa nói, không được giao cho rể phụ. Kế đến là cha mẹ chú rể, rồi bà con gần xa.
Người khó tánh, tin vào số chẳn. Số lẻ được kiêng cữ vì lẻ có nghĩa là lẻ bạn, lẻ đôi, vợ
chồng sau nầy không ăn ở bền lâu.
Đây là mức giản đơn ở thôn quê hoặc thành thị hồi trước 1945, Sài Gòn và Nam Bộ. Tục lệ
khiêng con heo, cặp chóe đựng rượu quá cồng kềnh. Thời xưa, chẳng qua là muốn tạo
khung cảnh đẹp mắt, cho vẻ vang dòng họ. Đáng lưu ý, theo cổ lệ, chỉ tặng đôi bông tai làm
vật kỷ niệm. Đôi nhẫn cưới làp hỏng theo tục lệ châu Âu theo đạo Thiên Chúa nhưng gẫm lại
gọn gàng, nên người Việt Nam sẵng sàng dung nạp, tiếp thu. Vả lại, các cô gái ngày này
không thích kiểu bông tai thời xưa, sau nầy, nếu có tiền, các cô tha hồ thay đổi kiểu bông
tai, theo thời trang có những hình dáng màu mè, với giá rẻ.
Thời xưa, xem trọng đôi bông tai. Câu ca dao: "Một mai thiếp có xa chàng, đôi bông thiếp
trả, đôi vàng thiếp xin" ngụ ý đôi bông là lời nguyền danh dự của dòng họ. Trả đôi bông,
đồng nghĩa với ly dị. Đôi bông của chàng, thiếp trả cho chàng, chẳng còn vướng mắc gì cả.
Nhưng đôi vàng, thiếp xin, vì đôi vòng vàng là "của chồng công vợ", do hai vợ chồng cùng
nhau làm kinh tế mà sắm, là tài sản chung. Chẳng phải vì cô dâu tham làm; đôi bông cân
nhẹ hơn đôi vàng (vòng đeo cườm tay)
Thời xưa, nhà trai nếu khá giả thường mang thêm vài đôi vòng, dây chuyền, chiếc neo. Lắm
khi số vàng này (ngoài bông tai) lại do đàng gái thương lượng trước, như là điều kiện tiên
quyết. Lại bày chuyện phức tạp: Chàng rể phụ phải rót rượu vừa đầy, không nhểu ra ngoài,
sau đó đại diện bên trai mời bên gái, và bên gái mời bên trai cùng uống, vì vậy, đặt sẵn
trong khay hai chén rượu. Trầu thì têm sẵn bốn miếng, bốn miếng cau kèm theo dính vào
nhau, không cắt rời. Ngày nay, vẫn tuân thủ mấy miếng trầu, tuy chẳng còn ai ăn, nhưng là
nét bảo lưu bất di bất dịch, chứng tỏ từ Nam chí Bắc, ta vẫn nhớ đến tích Trầu Cau từ đời
Hùng Vương xa xưa.
Sau khi uống rượu (lễ vật vẫn còn đặt ở cái bàn giữa nhà) lại cử hành nghi thức quan trọng
nhất, gọi là "Lên Đèn", cũng như trường hợp lễ Gia quan (đội khăn cho con) Người trưởng
tộc đàng gái đứng ngay ngắn trước bàn thờ, đặt hai ngọn đèn cầy màu đỏ sát bên, trước
mặt, có người trợ lý đốt đèn, chờ hai ngọn lửa lên tương đối cao, bèn dang hai tay ra, mỗi
tay cầm một ngọn. Hai bên bàn thờ, sẵn hai người trợ lý, gắn đèn vào chân đèn. Trước khi
dang tay, xá ba xa. Gắn ngọn đèn vào chân đèn phải cẩn thận, để đảm bảo ngọn đèn không
rơi, không ngã, tạo ra điềm xui xẻo.
Xong xuôi, chàng rể bước vào lạy, theo lệnh của ông mai. Thông thường chàng rể lạy bốn
lạy, lậy một mình. Sau đó, bày ra nghị thức lễ Công có: chàng rể lạy cha mẹ vợ, mỗi người
lạy hai lạy, nếu còn ông bà thì lạy ông bà trước. Đôi bông taiđược đưa vào phòng, từ
trước. Cô dâu bèn bước ra, đeo bôngtai, lạy ông bà chàng trai (nếu có) rồi xá chào (không
lạy) cha mẹ chồng, tự xưng là "con" (con dâu". Ông mai hoặc đại diện nhà trai đưa cô dâu
đến giới thiệu bà con bên chồng, đi theo có chú rể.
Xong xuôi, đại diện nhà gái đưa vài lễ vật như trà mứt, tượng trưng lên cúng bàn thờ, nếu
đàng trai mang rượu thì dùng rượu ấy mà cúng tổ tiên, với lời kấhn vái, giới thiệu tên họ
chàng rể, cầu được tổ tiên chứng giám. Tiệc đơn giản bàyra. Theo lời của ông mai, người
đại diện đàng trai (hoặc chính ông mai) đứng lên, nói rõ: "Đôi bên đã vui vẻ, buổi lễ đạt kết
quả, bênđàng gái như đã đồng ý rồi"
Đại diện nhà gái đứng lên cảm ơn và nói rõ đã chấp thuận. Nếu có đôi nhẫn, dịp này trai gái
đeo nhẫn cho nhau, hoặc nhờ người lớn tuổi đeo giùm. Ngày xưa, bày lễ dở mâm trầu, bố
trí sẳn, do chàng trai đem đến. Nay phần lớn đã giản lược. Đáng lý ra, chàng rể phải "làm
lễ", chờ được phân công làm vài công việc lặt vặt. Lễ "ở rể" đã bỏ từ lâu. Trước khi ra về,
nhà gái chú ý chia bánh mứt làm hai phần đồng đều, lấy một nửa, phân nửa kia đặt trở lại
trong quả và trên mâm cho đàng trai mang về gọi là "dằn mâm", "lợi quả", "lợi mặt" (lợi phải
chăng là "lại", theo nghĩa trả lại phân nửa?)
Theo lệ, từ đó, gặp dịp Trung Thu, ngày Tết, đàng trai tiếp tục đem quà, đàng gái cũng đáp
lễ. Thông thường, để cộc hôn nhân thành đạt, cần tránh dư luận của dòng họ, của chòm
xóm, bới lông tìm vết về lý lịch của cô dâu chú rể. Bởi vậy, đàng trai cho người đến bàn
bạc, định ngày cưới càng nhanh chóng càng tốt, chọn lựa lúc thời tiết nắng ráo, rảnh rang
việc đồng áng. Lại đề phòng trường hợp ông bà mất, chịu tang, đành đình hoãn, chờ mãn
tang. Thảo luận tỉ mỉ về chi tiết lễ cưới, ngày giờ rước dâu, đàng gái đến bao nhiêu người
để chuẩn bị tiệc tùng, phương tiện di chuyển như thế nào, sở phí tiệc tùng bên đàng gái do
ai đảm nhận.
Đáng lưu ý: để được cử hành nghiêm túc lễ: "Lên đđèn", cần đoán trước khá chính xác ni
tấc của đôi đèn, để gắn vào chân đèn cho chắc. Trên bàn thờ, thường đốt sẵn ngọn đèn
trứng vịt nhỏ, tiêu biểu cho ngọn lửa "hương hỏa" của dòng họ. phải dùng ngọn nến nhỏ, đốt
vào ngọn đèn dầu trên bàn thờ, rồi đốt ngọn nến lớn với ngọn lửa của nến nhỏ. Nếu vì lý do
nào đó, dùng hộp quẹt "ga" mà đốt vào ngọn nến lớn thì mất hết ý nghĩa. Lửa tiêu biểu cho
truyền thống, nối quá khứ của ông bà và hiện tại của con cháu.
Người lên đèn giữ thái độ nghiêm túc, chấp hai tay lại cho hai ngọn nến gần sát vào nhau.
Khi xá, phải vòng hai cánh tay cho xa, như hình tròn, đề phòng trường hợp ngọn lửa cháy
sát vào mặt, vào tóc. Lúc lên đèn, lúc chàng rể lạy, mọi người giữ im lặng, không nói
chuyện riêng.
Ngày nay, lể Hỏi tuy cần thiết nhưng khó tổ chức. Chẳng ai đủ thời giờ, bỏ suốt một buổi,
dầu là bà con, hoạ chăng người lớn tuổi thảnh thơi sống nhờ vả vào con cái. Ông mai, sui
trai sui gái thường là người hoạt động kinh tế, làm ruộng, mua bán, làm việc ở cơ quan, bận
rộn về tiểu thủ công nghiệp. Gặp nhau một buổi là xong, lúc rảnh rang thay cho lễ Hỏi. Nếu
chưa quen biết nhau, đàng trai đến thăm đàng gái, nhờ người lanh lẹ nào đó làm mai mối,
theo kiểu "ngoại giao lẻ". Lại đỡ tốn thời giờ vận chuyển , cản trở lưu thông, bao thuê xe cộ.
Quần áo, thậm chí những quả, mâ, bánh mứt đã có những hiệu chuyên làm dịch...
Thuần Phong Mỹ Tục Việt Nam - Sơn Nam
Quan
Hôn Lễ
Lễ Giạm
Lễ Hỏi
Lễ Thành Hôn
Tang Lễ
Lễ Giỗ
Việc Tế Lễ
Bàn Về Nguồn Gốc Của Tế Lễ Ở Đình Xưa
Diễn Tiến Của Lễ Kỳ Yên
Lễ Xây Chầu
Phụ Lục
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
Thuần Phong Mỹ Tục Việt Nam
Sơn Nam
Lời nói đầu
Ngày nay ta gọi nếp sống văn hóa mới; thời xưa, gọi "thuần phong mỹ tục", nôm na là ăn ở
"lịch sự" Lịch sự là nhan sắc bề ngoài nhưng còn chỉ cách ứng xử với người trong gia đình,
dòng họ, xã hội sao cho đúng phép tắc, lễ nghĩa. Ở Chợ Lớn, từ thời Tự Đức về trước, có
làng Minh Hương, nhằm qui tụ người Hoa lai Việt. Hương chức làng được quyền thu thuế,
nạp cho cấp trên đúng thời hạn, ngoài ra, phân xử những kiện cáo lớn hỏ, đặc biệt là các
ông kỳ lão do dạy dỗ người trong làng về quan ,hôn, tang tế. Bấy giờ có câu ca dao:
Gỏi chi ngon bằng gỏi tôm càng,
Đố ai lịch sự bằng làng Minh Hương.
Trong những làng xã đã định hình, đạc biệt ở đồng bằng sông Hồng, thời trứơc có "Hương
ước", đại khái, một kiểu lệ làng qui định xử phạt những ai ăn ở ngỗ nghịch, không tuân lệnh
cấp trên, ăn nói thô tục, không tương trợ người củng thôn xóm, ngạo mạn với thần thánh.
Lịch sự, thuần phong mỹ tục được cụ thể hóa với nghi thức tối thiểu. Ngày Tết, việc thắp
nhang trước bàn thờ tổ tiên vẫn cần nghi thức tối thiểu, thí dụ như mặc áo gài nút, mặt mày
sạch sẽ, đành rằng cái "tạm" (tấm lòng) là nội dung quyết định, nhưng cái tâm phải được
bộc lộ ở hình thức tối thiểu. Chẳng lẽ trong nhà gặp tang khó, người chịu tang khóc lóc, đau
khổ nhưng lại mặc quần ngắn. Khi thăm viếng bạn bè ai lại để đầu bù tóc rối, quần áo xốc
xếch. Ngày Quốc lễ, chẳng lẽ nhớ Tổ quốc nhưng nhà cửa không quét tước?
Tập biên khảo này soạn ra nhằm mục đích góp ý vào quan niệm "nếp sống mới", không làm
sao chép những nghi thức phức tạp trong sách vở thời xưa mà chưa ắt thời xưa có người
thực hiện đúng, họa chăng là kẻ quyền quí tột bậc. Thật ra, phong tục, nghị lễ tự nó đã biến
đổi chậm hay nhanh, trước sự biến đổi của kinh tế, nhất là khi tiếp xúc với Tây Phương, thời
tư bản chủ nghĩa. Chẳng còn mấy người đàn ông mang cái búi tó! Trai gái gặp nhau, theo
ca dao thì mời miếng trầu. Đó là dĩ vảng. Cô gái ra đường đội nón quai thao, mang yếm
thắm, hoặc mang vòng vàng quá nhiều, mặc áo tứ thân chỉ còn thấy trong truyện dã xử,
trong bức tranh sơn mài, hoặc hội diễn áo quần qua các thời đại, nhắc nhở nhớ nguồn. Đám
tang ngày nay chẳng ai đủ thời giờ, khả năng, và phương tiện vật chất để làm đủ lễ như
xưa. Thời "mở cửa", của cải tạo xã hội, đổi mới, thiết tưởng ta nên hểiu nội dung của tục lệ
xưa, rút ra vài nét cơ bản: không có không được", rồi vận dụng linh hoạt tùy nơi thành thị,
chốn thôn quê, ở gia đình giàu hay nghèo.
Nhiều sách khảo cứu đã xuất bản, nhưng nội dung là hoài cổ, nói những điều mà ngày nay
chẳng ai thực hiện được, chẳng khác nào đề nghị cán bộ đi công tác nên nằm trên võng có
người khiêng, hoặc người trong quân đội nên trang bị như "lính thú thời xưa".
Nước ta chịu ảnh hưởng nghi lễ Trung Hoa trong thời gian khá dài, dựa vào sách Chu Lễ
(nghi lễ đời nhà Châu) qui định đến "300 điều Lễ nghi" (lễ nghi tam bách) thêm 3.000 điều
"Uy nghi". Nhưng trong thực tế, nói để mà nói, chưa ắt người xưa bên Trung Quốc, thậm chí
bậc vua chúa muốn thực hiện đủ huống gì khi đem vận dụng vào hoàn cảnh nước ta, với
nguồn gốc dân tộc, phong thổ, điều kiện khí hậu riêng, từ thời đại đồ đá, đồ đồng, Bình Ngô
Đại Cáo của Nguyễn Trãi đã khẳng định (theo bản dịch Trần Trọng Kim)
"Như nước Việt ta từ trước, vốn xưng văn hiến đã lâu. Sơn hà cương vực đã chia, phong
tục Bắc Nam cũng khác" (Bắc là nước Trung Hoa)
Theo cách nói thông thường, muốn giữ phong tục ta chú trọng bốn trường hợp cụ thể :
1/ Quan, theo nghĩa Gia quan (quan là cái khăn)
2/ Hôn (lễ cưới)
3/ Tang (việc ma chay, tống táng)
4/ Tế (việc tế tự ở đền miếu)
Nói cho rộng ra, nào phải riêng người Việt, người Trung Hoa mới chú trọng bốn vấn đề trên.
Các dân tộc khác vẫn có "quan", "hôn", "tang, "tế" nhưng họ dùng danh từ khác, cốt lõi vẫn
giống nhau. Không nên tự tôn hoặc tự ti về vấn đề này.
Chúng ta lần lượt trình bày từng vấn đề, thử đề nghị vài nguyên tắc "khả thi", có thể ứng
dụng được mà vẫn giữ nguyêntắc cơ bản "về nguồn", không ghi lại rườm ra những chi tiết
đâu đâu, nghe nói chớ chưa ai từng thấy. Đối tượng người đọc vẫn là đồng bào phần lớn ở
Nam Bộ, ở Sài Gòn, với vùng nội thành chen chúc và vùng quê đã ít nhiều bị "đô thị hóa"
trong kinh tế thị trường.
QUAN
Đúng ra, gọi lễ gia quan, "Gia" là thêm vào, không phải nhà cửa. "Quan", viết chữ Hán, là
cái khăn đội của đàn ông. Cái mào con gà gọi "kê quan", mào gà được xem như cái mão,
cái nón. Không phải "quan" là là làm quan. Nhiều người lầm lẫn, ngỡ rằng quan là "ông
quan", lể Gia quan là một kiểu "thăng quan tiến tước", được lên chức vụ cao hơn thì làm lễ
khảo htưởng!
Lễ Gia quan nay không còn, xưa khi chỉ dành cho nhà quyền quí, dòng họ tăm tiếng, nhiều
điền sản. Nôm na, gọi là lễ cho đứa con trai lớn lên, được 20 tuổi (tuổi ta) đội cái khăn xếp,
chứng tỏ nó đã trưởng thành, có thể cưới vợ, thay mặt cha mẹ quản lý gia tài, thừa hưởng
đất vườn hương hỏa. Khi được đội khăn, đứa trẻ đương nhiên phải mặc cái áo dài đen (áo
the) và đi đôi dép (kiều hàm ếch) cho đồng bộ.
Chọn ngày lành tháng tốt, nhờ người trưởng lão trong dòng họ hoặc trong thôn xóm đến làm
chủ lễ. Nhang đèn, hoa quả trần thiết trên bàn thờ, bà con tề tựu đông đủ, thêm một số
quan khách. Đứa thanh niên quì gối trước bàn thờ tổ tiên, người trưởng lão làm lễ "lên đèn"
đốt hai ngọn nến lớn, chắp tay trước mặt rồi mỗi tay giang ra, đưa cho hai người "trợ lý"
gắn vào hai chân đèn. Ông nói, đại khái:
- Con ơi, nay con lớn khôn ,bắt đầu từ hôm nay, phải gánh trách nhiệm trong gia đình, xã
hội. Phải biết tự trọng nuôi ý chí lập thân, học hành chăm chỉ. Người cha, hoặc ông kỳ lão
thay mặt cho dòng họ tuyên bố đặt tên 'tự" là tên chính thức của cậu trai. Như ta biết, hồi
cách đây vài mươi năm, ở miền quê, khi đứa bé chào đời, cha mẹ chưa đặt tên chính thức;
ăn đầy tháng, bèn đặt tạm một cái tên, thường là xấu, đềp hòng trường hợp ma quỷ rình
bắt những đứa mang tên đẹp. Đến 20 tuổi, ở gia đình khá giả, dịp lễ gia quan, lại đặt tên
chính thực, nào Khắc Cần, nào Trọng Phủ, nào Tế Xuyên . . Người Pháp đến, bắt buộc sau
khi đứa bé chào đời, phải làm giấy khia sinh lập tức. Vì vậy nhiều đứa bé mang tên xấu ghi
vào hộ tịch lúc còn nhỏ; lớn lên , muốn sửa đổi, thì ra tòa xin phép.
Có thể so sánh: Ngày xưa, lễ Gia quan tổ chức trong gia đình mang ý nghĩa như ngày nay
cậu trai đựơc quyền Công dân, được cấp Chứng minh nhân dân, về mặt pháp lý. Sách Lễ
Ký ghi, tạm dịch:
"Lễ Gia quan đứng đầu mọi lễ . . hoặc "Con trai đã lớn thì phải làm lễ đội mão và đặt tên,
ấy là đạo nên người trưởng thành vậy" (Tất quan nhi tự chi, thành nhân chi đạo dã).
Lễ Gia quan không phổ biến trong xã hội ta, nhưng thói quen gọi "quan" "hôn" "tang" "tế"
cho có vần điệu, nghe xuôi tai. Nhưng còn vấn đề nóng bỏng, trong thực tế xã hội ta ngày
nay, ấy là cái "khăn đen, áo dài" nên để hay nên bỏ?
Đặt vấn đề quá cứng như thế, khó trảl ời. Ta thử đi sâu vào chi tiết, trong hoàn cảnh xã hội
ta, từ Bắc chí Nam.
Trước tiên, nên khẳng định. Cái khăn đen (gọi là khăn đóng, khăn be hoặc khăn xếp, theo
ngoài Bắc) là nét đặc thù của ta. Theo tôi hiểu ,người Trung Hoa không xài kiểu khăn đen
như ta nhưng họ đội cái mão tròn, áp vào tóc, trên chóp có cái đuôi ngắn, giống như trái bí
cắt, chừa cuống.
Từ đồng bằng sông Hồng, khăn đen gọi là khăn xếp, may với loại vải the, rất mịn, gọi Gò,
hoặc Bùng, có lẽ vì là đặc sản về ngành dệt làng Bùng , quê hương ông trạng Phùng Khắc
Khoan, gọi là Trạng Bùng.
Đó là một giải khăn, hẹn về ngang, nhưng khá dài. Khi đội, làm nhiều động tác, đòi hỏi sự
nghiêm túc, quấn vào đầu đếm đúng bảy vòng, chừa cái ngấn để phân biệt từng vòng. Trên
đỉnh đầu, vì kỹ thuật búi tóc để lộ ra. Vấn khăn tốn thời giờ, nhằm nhắc nhở sự nghiêm túc,
cẩn thận khi đi đường, ứng xử với mọi người, không hấp tấp. Ra đường, phải "khăn áo
chỉnh tề" đi đứng khoan thai (không hấp tấp vừa đi vừa chạy); cũng như trong lời ăn tiếng
nói, nên lựa lời, kính trên nhường dưới, Khăn đi đôi với áo, trên nguyêntắc, khi giao tế,
không thể bổng nhiên vì nực mà tự tiện lột khăn ra. Hành động ấy quá vô phép, như trường
hợp khi vào chầu vua, luôn luôn giữa mão cánh chuồn. Mặc dầu ở trong cung điện, vua cũng
đội mão, khi ngồi trên ngai. Lột mão ra là chuyện chẳng ai dám nghĩ tới.
Thời pháp mới đến, đã xảy ra vài chuyện ngộ nhận. Tuy theo tân trào, đội nón nỉ (nón phớt)
hoặc nón Tây,, khi gặp quan trên, người hương chức làm việc cho Pháp vẫn quen đội nón,
tưởng rằng mình giữ đúng nghi lễ, cũng như khi vào nàh, vẫn đội nón. Theo Tây Phương, lột
nón ra, để đầu trần là biểu hiện của lòng tôn kính.
Một chi tiết: Chỉnh tề lúc giao tế, trên nguyên tắc vẫn là hành động với hai tay: Học trò dùng
hai tay để trao cái tập viết bài, quyển sáchcho thầy. Con dâu dâng trả cho chồng hoặc cha
mẹ chồng thời xưa vẫn là dùng hai tay; lúc xả, khoany tay cũng hai tay. Buổi tiếp xúc với
văn minh Tây Phương, người Việt vẫn giữ cái quán tính là bắt tay kiểu Tây Phương, với hai
bàn tay! Theo tôi, chẳng có gì mặc cảm, quê mùa cho lắm. Ngày nay, trong giới trẻ vẫn giữ
lệ ấy, dùng hai tay mà bắt tay một người lớn tuổi hoặc có chức vị cao. Trong cuộc đua xe
đạp, khi được trao giải, ta thấy người thắng cuộc, rất trẻ, dùng hai tay mà bắt tay vị đại
diện của chánh quyền, hồn nhiên.
Trở lại cái khăn đóng, khăn xếp. Như đã nói, thời xưa cái khăn này rất chắc, vì may nhiều
lớn và khá dài. Đọc lịch sử nước nhà, thấy ghi việc ông Hoàng Diệu thắt cổ tự tử khi giữ
không xong thành Hà Nội (chưa chi, kho thuốc nổ và cháy vì nội ứng). Phải chăng là ông
thắt cổ với dụng cụ sẵn có là cái khăn xếp, đội trên đầu, tháo ra như sợi dây. Ở Nam Bộ,
khăn xếp trở thành "khăn đóng", nghĩa là xếp sẵn, may lại, giữ những lằm xếp, khi cần, cứ
đặt lên đầu, không tốn thời giờ nắn nót từng lằn, thêm miếng vải phủ trên đầu, che toàn diện
mớ tóc. Dường như có sự phân biệt nhỏ, của địa phương: Ở đồng bằng sông Hồng, nhìn từ
trước, phía trán, lằn xếp nằm ngang như chữ "Nhất", trong Nam , thay vì chữ "Nhất", ta thấy
hai lằn gãy, giải thích là chữ "Nhân", con người đứng giữa trời và đất.
Nên dùng cái "khăn đen áo dài" làm quốc phục chăng? Câu hỏi nêu ra, rất cần thiết vì mỗi
dân tộc đều dùng quốc phục riêng và tự hào với quốc phục của ông cha, cải tiến chút ít.
Bốn ngàn năm văn hiến, chẳng lẽ văn hiến ấy không biểu hiện trong quốc phục thì biểu hiện
ở đâu? Vài người bảo "khăn đen áo dài" do phong kiến bày ra, thậm chí còn bảo là "biểu
tượng của Ngô Đình Diệm!" Thật ra cái khăn đen này có trước từ lâu. Trong thời đại công
nghiệp, giao lưu nước ngoài, theo tôi, nên định rõ trường hợp;
"Giáo tế phục", dùng trong lúc giao tế ở cơ quan, lúc lo việc hành chính, dĩ nhiên là kểiu Âu
phục, thắt cà vạt khi cần, mang giày. Nhưng dịp lễ hội dân tộc thuộc về truyền thống, ta nên
mặc "khăn đen áo dài" thoạt nhìn chưa quen mắt, luộm thuộm, nhưng lần hồi sẽ quen và
thấy là đẹp, nhất là đối với người hơn 50 tuổi, dịp đám cưới, thăm người già, dịp Tết, dự
đình đám hội hè. "Nếu ta xua đuổi cái tự nhiên, cái bình htường thì cái mà ta xua đuổi ấy sẽ
trở lại với ta rất nhanh" Tôi tin chắc trong tình hình hiện nay, trong khi tìm một hình ảnh cụ
thể để chứng minh bản sắc Việt Nam, thì khăn đen áo dài là hai món đầu tiên mà mọi người
đều nghĩ đến. ó đã còn đó, từ lâu, nếu ta chú ý. Dầu là theo Tây học từ sợi tóc đến móng
chân, ở Việt Nam, ta vẫn còn thấy cái áo tang, dịp cha mẹ, ông bà mất. Không thể nào may
cái áo vét tông với vải tang, thêm cái cà vạt với vải tang. Cái áo tang vẫn là kiểu áo dài đen,
gài nút một bên hông, vạt áo phủ đầu gối. và nếu giản lược, những người bà con xa gần
cũng vẫn phải vấn cái khăn tang trên đầu , dầu là con trai, theo hình dáng cái khăn đen ngày
xua.
Dịp ăn "lục tuần", bát tuần" cho cha mẹ ông bà, nhiều người bày ra kiểu áo lễ cho trẻ con
năm bảy tuổi: Áo dài, khăn đóng, xem đẹp mắt. Ta nên nhớ cái áo "vét" của Tây Phương
ngày nay cũng là sự sáng tạo của thời phong kiến, cắt ngắn vạt, cải tạo chút ít. Quốc phục
của nước nào cũng là di dản của thời phong kiến.
HÔN LỄ
Hôn lễ được xem như quan trọng hàng đầu, dính dấp trực tiếp đến việc nối dõi dòng họ,
sanh con đẻ cháu, để rồi dân đông, nước mạnh. Không riêng gì người Việt Nam, các dân
tộc trên thế giới đều đặt nặng việc "hôn lễ". Sinh ocn cái để bảo đảm tư hữu tài sản, thừa
kế huyết thống. Đó là quan niệm thời nông nghiệp, đánh dấu bước tiến quan trọng so với
thời ở hang động mà nam nữ ăn ở chung đụng, sống với săn bắn, hái trái, đào rễ cây mà
ăn, quần áo còn thô sơ, luật lệ không rõ ràng. Ở Đông Á, trên lý thuyết, việc "hôn lễ" ngày
càng phức tạp, định hình bước đầu đời nhà Chu trước Tây lịch. Lại giải thích dài dòng về
chữ Hán, chữ "Hôn" nguyên nghĩa là "tối", trời tối, Âm đến, Dương (ban ngày) sắp quan,
Âm và Dương gặp nhau. Lài bàn rằng thời xa xưa ấy, lễ hôn nhân cử hành vào buổi tối để
hy vọng đạt kết quả, Âm gặp Dương. Ngày nay, các nước đều xem việc "động phòng" là
trọng, phải cử hành vào ban đêm cho thuận lợi, đem chuyện âm dương ra để giải thích e
cường điệu.
Thời phong kiến , trong xã hội còn bị nông nghiệp chi phối nặng nề cuộc hôn nhân được qui
định chặt chẽ, lại có luật hôn nhân, luật gia đình trừng phạt những ai vi phạm, thí dụ như vấn
đề ly dị, lỵ thân , phân chia tài sản, thông gian. Nhu cầu to lớn thời nông nghiệp vẫn là tạo ra
người nối dõi. Vợ hiền lành, đủ "dung" công"ngôn "hạnh" nhưng không sinh con, hoặc chỉ
sinh con gái mà không sinh con trai thì quả là vi phạm chữ "hiếu"
Thời nông nghiệp, sinh con đông là điều may mắn? Con cái phải chăng là một dạng "sức
kéo" khi chưa có cơ giới? Con cái đông đúc, cha mẹ mặc nhêin được yên tâm khi về già,
may racó được vài đứa giữ được chữ "hiếu", phụng dưỡng cha mẹ. Con cái đông, quả là
thứ "lương hưu trí" khá bảo đảm, thời xưa, không nêu ra vấn đề an sinh xã hội, trợ cấp
người già, họa chăng vào dịp đầu năm, các quan hoặc nhà vua ban thưởng cho người già
non trăm tuổi chút ít tiền bạc, chiếc áo, gọi là tưởng lệ. Việc ở rể là lợi dụng sức lao động,
là dạng khai thác lao động. Ở thôn quê , ngày xưa, mặc nhiên bày ra lệ "tảo hôn" để người
cha yên tâm sẽ có cháu. Cô dâu lắm khi lớn tuổi, hơn cậu trai vẫn là tốt, để tiếp sức cấy
gặt. Nay thì khác. Hồi trước năm 1945, ở vài miền quê, thậm chí ở thành thị, nhiều người
còn hãnh diện được làm ông nội hoặc ông ngoại khi mới 40 tuổi. Lại chụp ảnh, bày tiệc
tùng, mừng rằng đã bảo đảm được sự nối dõi của dòng dõi, có phước hơn nhiều người.
Ngày nay nhiều người, vì nhiều lý do, tuổi hơn 40 mà chưa chịu cưới vợ. Hậu quả này rất tai
hại: Người cha làm ăn khá giả, sắm ruộng vườn, hoặc xây được nhà lầu, khi 60 tuổi, nhắm
mắt lại, tủi thân, chẳng biết tin tưởng vào đâu vì vợ còn trẻ, con trưởng nam mới mươi tuổi,
tương lai học hành về đâu? Tài sản về tay ai ?
Có sự hãnh diện chánh đáng là sống dai, và sống chung trong một mái nhà gồm có ông cố,
ông nội, cha, con cháu chắt. Bốn thế hệ đầy đủ, tương đối ấm no, chụp ảnh kỷ niệm, niềm
vinh hạnh của "Tứ đại đồng đường", cùng hiện diện trong một nhà, hoặc nhiều nhà ở gần
nhau.
Người cùng một họ được quyền cưới hỏi với nhau không" Phải chăng là loạn luân? Trên lý
thuyết (thông dụng), trên bàn thờ của gia đình thường là thờ người quá cố từ ba đời trước,
hoặc hai đời trước (cúng giỗ cho ông nội, ông cố ) là dứt. Ở những từ đường danh cho cả
họ, thường là thờ trở lên đời thứ tư mà thôi. Qua đời thứ năm, (đời ông sơ) mặc dầu cùng
họ Nguyễn, họ Lê nhưng xem như người dưng, cùng một họ vẫn có thể cưới hỏi nhau. Vả
lại, trong thực tế, thời Trịnh - Nguyễn phân tranh, sau những cuộc khởi loạn chống vua chúa,
để tránh nạn "tru di tam tộc" nhiều người đành thay đổi họ, dời chỗ ở thật xa để che giấu lý
lịch.
Việc cưới hỏi và nghĩ lễ mặc nhiên ngày càng thay đổi nhanh cho phù hợp với thực tế, để có
thể gọi là "khả thi". Kết hôn với người nước ngoài, ngày nay không thành vấn đề. Không
cưới hỏi nhưng sống chung, sanh con vẫn là hợp pháp. Ở nước ngoài, lại sôi nổi chuyện
cưới hỏi giữa người "đồng tình luyến ái", khó giải quyết!
Dưới đây, xin trình bày những gì đang diễn biến ở nước ta, trong sinh hoạt bình thường.
Việc cưới hỏi trong những gia đình theo đạo Thiên chúa, đạo Hồi . . nằm ngoài thẩm quyền
của người biên soạn.
Thử duyệt qua những gì người xưa để lại, vận dụng và đơn giản hóa vào tình hình nước ta,
để lấy đó làm chuẩn mục, tuân thủ những nguyên tắc cớ bản.
Ở nông thôn, thời phong kiến, trong cơ chế của hương chức hội tề cai quản về hành chính,
có một hoặc hai người đặc trách về nghi thức "quan" "hôn" "tang" "tế" gọi chung hương Lễ,
ông hương Văn. Người Pháp không chánh thức chấp nhận những chức vị nầy, nhưng mặc
nhiên ở vài miền quê, trước 1945 vẫn còn tồn tại, được nhiều người quí mến. Lại còn vài
người chuyên xem tuổi tác, ngày giờ cử hành hôn lễ rồi bàn bạc, gây phức tạp về tâm lý.
Thời phong kiến, chịu ảnh hưởng Trung Hoa, vài nhà lý luận bày lễ nghi rườm rà, rồi chê
khen, gây tốn kém vô ích, dựa vào sách "Lễ Ký" của Chu Văn Công, tức Chu Hy, một danh
nho đời nhà Tống. Chính ông Chu Hy này cũng đã giản lược những điều phiền phức từ
trước đời ông, nhưng xem lại, ngày nay, ta vẫn còn thấy rườm ra, "bày lắm trò".
Theo sách của Chu Hy, lễ thành hôn gồm có sáu lễ chính, ngoài ra, còn nhiều lễ phụ. Xim
chép lại cho vui:
1. Lễ Nạp thái - Đại diện nhà trai đến nhà gái, theo giao hẹn trước, mang theo một con chim
nhạn, loài chi nầy sống có nghĩa ưng ý nhau thì không bao giờ phản bội; con này chết, con
kia vẫn sống lẻ loi. Về sau, dùng hai con ngỗng, con đực và con cái , thay cho chim nhạn. Ở
Nam Bộ, khó kiếm cặp ngỗng, thông thường dùng cặp vịt mập mạp, con trống con mái. Có
người giải thích đó là biểu tượng chim uyên ương bay liền cánh, không bao giờ rời nhau.
Trường hợp chàng trai ăn ở lén lút với cô gái, không cưới hỏi, đàng trai phải đem đến đàng
gái một cặp vịt, gọi là "tạ lỗi". Lắm khi đàng gái giận hờn, không chịu nhận. thế là mặc dầu
tiếp tục ăn ở với nhau, chàng trai chẳng bao giờ được nhà gái xem như con rể.
2. Lễ Vấn danh - Lễ hỏi tên chính thức của người con gái và tên họ bà mẹ. Con gái có tính
tình, đức tính giống mẹ vì mẹ là người đào tạo trực tiếp , "Cưới gái chọn dòng, nuôi heo
chọn nái".
3. Lễ Nạp cát - Đàng trai đến nhà gái để xác nhận sự quyết tâm của mình, sua khi nhờ thầy
xem tuổi, chọn ngày lành tháng tốt.
4. Lễ Nạp trưng. - Còn gọi "Nạp tệ" . "Trưng" là chứng cớ, "Tệ" là tấm lụa, đem vóc lụa tốt
tặng cho nhà gái. Về sau, thay vì vóc lụa, có thể nạp số tiền.
5. Lễ Thĩnh kỳ. - Xác định lần chót ngày giờ tửc hành hôn lễ, nạp cho nhà gái nữ trang, nhất
là vải vóc, y phục cho cô dâu.
6. Lễ Thân nghinh - Rước dâu, đưa dâu. Gọi là lễ cưới chính htức. Thời xưa, còn bày ra
nhiều lễ phụ như cúng Tơ hồng, lễ Động phòng sau khi cưới, đôi vợ chồng phải trở về thăm
cha mẹ vợ, lạy bàn thờ, thêm quà cáp.
Bao nhiêu ràng buộc nhằm nhắc nhở cô dâu chú rể và hai họ thấy tầm quan trọng, ràng
buộc nhau. Muốn ly hôn, mặc nhiên hủy bỏ những gì đã tiến hành từ trước. Lễ cưới ngày
xưa diễn ra nhiều ngày. Muốn đủ sáu lễ, cũng phải đôi ba tháng. Thời nông nghiệp, độc
canh, sau vụ mùa, ai nấy rảnh rang chờ đến ăn Tết, hoặc sau Tết, chờ khi trời bắt đầu sa
mưa mới nghĩ đến việc gieo trồng. Ngày nay, làm ruộng tăng vụ, họ hàng bận việc riêng tự,
chẳng ai đủ thời tgiờ tham dự những lễ lộc tượng trưng như xua. Thời xưa, chịu sức ép về
dư luận. Lắm khi cô dâu chú rể chỉ thấy mặt nhau một đôi lần, vì cách xa làng tổng, lại phân
tích nào môn đặng hộ đối, theo dõi thói hư tật xấu của đôi vợ chồng tương lai. Lắm khi đàng
trai hoặc đàng gái dùng chiến thuật hỏa mù, hủy bỏ, danh dự cho được.
Trong dân gian, như đã nói để tiết kiệm thời giờ và tiền bạc lần hồi đơn giản hóa, chỉ còn ba
lễ, nói chung, phổ biến hồi trước năm 1945, khi nhà nông còn rảnh rang, lương thông tin,
phương tiện di chuyển còn chậm chạp khó khăn:
LỄ GIẠM
- Vai trò ông mai quyết định sự thành bại. Khi chàng trai và cha mẹ cậu ta đồng ý, bèn cậy
người mai có uy tín đến nhà gái. Mặc dầu bên gái đã biết và đồng ý ở mức tương đối, lễ
này rất cần thiết nhằm giữ thể diện cho nhà gái. Không mang theo qùa cáp gì cả, để tạo
không khí thân mật, ông mai cùng đi với đôi ba người bạn của mình, từng quen biết nhà trái,
lý tưởng nhất là cùng đi còn có đôi ba người bạn thân của nhà gái, để tạo ra sự thân mật từ
lúc đầu. Dĩ nhiên, phải báo tin trước. Nếu là chỗ thân mật mang theo ít quà tượng trưng,
như trái cây, hộp trà. Đã đến báo tin vui vẻ, xem như sự việc đạt yêu cầu được tám phần
mười. Trong buổi sơ giao này, cha mẹ đàng tai không đi theo.
Lễ Giạm còn gọi là lễ "Chạm ngõ", "Coi mắt", "Ra mắt" . . ngày nay gần như không còn
nữa. Trước khi giao ứơc sẽ thành hôn, thanh niên nam nữ ngày nay đã chung đụng dễ
dàng, quen sẵn nơi xí nghiệp hoặc cơ quan lân cận. Chưa kể đến dịp tiệc tùng, sinh nhật, đi
chơi Vũng Tàu gặp tình cờ hoặc có hẹn trước, lại còn những tụ điểm như khu phố, gặp nhau
khi giao thiệp cùng ngành nghề mua bán, trong lớp học nghề. Cha mẹ đôi bên có lắm dịp
gặp mặt nhau khi giao thiệp, làm ăn, thường là cha mẹ đôi bên đã tạm ưng thuận, chỉ còn
thắc mắc về sinh kế tương lai của đôi trẻ, về nhà cửa sau nầy, hộ khẩu . .. Ông mai chỉ còn
vai trò tượng trưng, lắm khi đóng vai trò ông mai "bất đắc dĩ" cho vui vẻ giữa người lớn tuổi
với nhau. Ngày xưa, có lệ ông mai được phần thưởng là cái đầu heo, nay nhắc lại cho vui.
Luật lệ ngày nay tôn trọng thanh niên nam nữ đã thành niên, việc cưới hỏi đôi khi lại không
được sự chấp thuận vui vẻ của cha mẹ. Vả lại, cha mẹ thích con cái ra riêng, sống tự lập, ai
đâu còn ruộng vườn mênh mông mà sợ chia gia tài. Tiền bạc, nhà ở quan trọng hơn.
Lễ Giạm hay Coi mắt này đã thay cho lễ gọi là "vấn danh" thời trước. Bỏ qua cũng không
sao.
LỄ HỎI
Đây là lễ quan trọng, thay cho lễ "Nạp trưng" hay "Nạp tệ" thời trước. Lễ hỏi, gọi nôm na
"Đám Hỏi", còn được gọi là lễ "Đính Hôn". Nếu hoàn cảnh cho phép, ngày nay ta có thể cử
hành thật đơn giản, trong vòng một hai tiếng đồng hồ mà gieo được dư luận tốt cho gia
đình, để rồi sau đó , đôi trai gái được khá nhiều tự do, nhưng cùng nhau xem xét, dạo chơi
Thảo Cầm Viên, chơi vườn cây ăn trái ở Lái Thiêu, đi công khai mà chẳng sợ tiếng tăm dị
nghị. Trong dân gian, gọi khôi hài là lễ "Bỏ hàng rào thưa", chàng trai mặc nhiên đã đặt cái
"hàng rào" không chặt chẽ lắm đối với người yêu, xem như đặc quyền cho mình, kiểu
"khoanh vùng", đất đã có chủ, nạp hồ sơ, chỉ còn chờ thời gian là được cấp giấy "xác nhận
chủ quyền".
Trong gia đình nề nếp khá rộng rãi, lắm khi nhà trai cử hành lễ nhỏ, khiêm tốn, tại bàn thờ
ông bà cha mẹ mình. Đại khái, người gia trưởng đốt nhang, khấn vái với nội dung:
- Hôm nay dòng họ nhà mình đến hỏi đứa con gái tên X, con gái của dòng họ Y cho đứa
con trai dòng họ mình là A. xin ông bà cha mẹ (gia tiên) chứng giám và vui lòng phò trợ cho
đôi trẻ được may mắn.
Nhà trai đến nhà gái, báo tin trước để nhà gái chờ đón. Lễ vật nhà trai mang theo gồm có
(nếu đủ khả năng):
- 1 khay rượu, phủ khăn đỏ. Màu đỏ là tượng trưng của Phước, may mắn.
-2 cái quả (một đựng cau trầu, têm sẵn) một đựng đôi bông (hoặc hai chiếc nhẫn cưới). đây
là loại quả nhỏ, cũng phủ khăn đỏ, thêm vài mâm (số chẵn) đựng rượu, mứt, bánh trà.
Họ đàng trai sắp hàng khi gần đến nhà gái một đại diện lớn tuổi, thường là ông mai đi trước
một mình, theo sau có người bưng khay trầu rượu (thường là thanh niên, chàng rể phụ cho
vững tay). Đằng gái cử người ra mời vào nhà. Ông mai trình bày lý do, xin phép cho chàng
trai đến làm lễ hỏi, xin đặt khay trầu rượu trên bàn, giữa phòng khách. Nhà gái cười vui, tỏ
lời ưng thuận bèn cử một người đại diện (không nhất thiết là cha cô gái) ra tận cửa để mời
đoàn nhà trai vào. Khi vào, nên tuân theo thứ tự: Lễ vật mang vào trước, như mâm rượu,
bánh, trái cây, sau đó mới đến ông mai, rồi người trưởng tộc đàng trai, thường là lớn tuổi.
Kế đến , chú rể, chú rể bưng cái quả đựng lễ vật (nhẫn cưới, hoặc đôi bông). Sau chú rể là
rể phụ bưng khay trầu tượu. Đôi đèn sáp là quan trọng, tự tay chú rể bưng, đặt lên trên cái
quả vừa nói, không được giao cho rể phụ. Kế đến là cha mẹ chú rể, rồi bà con gần xa.
Người khó tánh, tin vào số chẳn. Số lẻ được kiêng cữ vì lẻ có nghĩa là lẻ bạn, lẻ đôi, vợ
chồng sau nầy không ăn ở bền lâu.
Đây là mức giản đơn ở thôn quê hoặc thành thị hồi trước 1945, Sài Gòn và Nam Bộ. Tục lệ
khiêng con heo, cặp chóe đựng rượu quá cồng kềnh. Thời xưa, chẳng qua là muốn tạo
khung cảnh đẹp mắt, cho vẻ vang dòng họ. Đáng lưu ý, theo cổ lệ, chỉ tặng đôi bông tai làm
vật kỷ niệm. Đôi nhẫn cưới làp hỏng theo tục lệ châu Âu theo đạo Thiên Chúa nhưng gẫm lại
gọn gàng, nên người Việt Nam sẵng sàng dung nạp, tiếp thu. Vả lại, các cô gái ngày này
không thích kiểu bông tai thời xưa, sau nầy, nếu có tiền, các cô tha hồ thay đổi kiểu bông
tai, theo thời trang có những hình dáng màu mè, với giá rẻ.
Thời xưa, xem trọng đôi bông tai. Câu ca dao: "Một mai thiếp có xa chàng, đôi bông thiếp
trả, đôi vàng thiếp xin" ngụ ý đôi bông là lời nguyền danh dự của dòng họ. Trả đôi bông,
đồng nghĩa với ly dị. Đôi bông của chàng, thiếp trả cho chàng, chẳng còn vướng mắc gì cả.
Nhưng đôi vàng, thiếp xin, vì đôi vòng vàng là "của chồng công vợ", do hai vợ chồng cùng
nhau làm kinh tế mà sắm, là tài sản chung. Chẳng phải vì cô dâu tham làm; đôi bông cân
nhẹ hơn đôi vàng (vòng đeo cườm tay)
Thời xưa, nhà trai nếu khá giả thường mang thêm vài đôi vòng, dây chuyền, chiếc neo. Lắm
khi số vàng này (ngoài bông tai) lại do đàng gái thương lượng trước, như là điều kiện tiên
quyết. Lại bày chuyện phức tạp: Chàng rể phụ phải rót rượu vừa đầy, không nhểu ra ngoài,
sau đó đại diện bên trai mời bên gái, và bên gái mời bên trai cùng uống, vì vậy, đặt sẵn
trong khay hai chén rượu. Trầu thì têm sẵn bốn miếng, bốn miếng cau kèm theo dính vào
nhau, không cắt rời. Ngày nay, vẫn tuân thủ mấy miếng trầu, tuy chẳng còn ai ăn, nhưng là
nét bảo lưu bất di bất dịch, chứng tỏ từ Nam chí Bắc, ta vẫn nhớ đến tích Trầu Cau từ đời
Hùng Vương xa xưa.
Sau khi uống rượu (lễ vật vẫn còn đặt ở cái bàn giữa nhà) lại cử hành nghi thức quan trọng
nhất, gọi là "Lên Đèn", cũng như trường hợp lễ Gia quan (đội khăn cho con) Người trưởng
tộc đàng gái đứng ngay ngắn trước bàn thờ, đặt hai ngọn đèn cầy màu đỏ sát bên, trước
mặt, có người trợ lý đốt đèn, chờ hai ngọn lửa lên tương đối cao, bèn dang hai tay ra, mỗi
tay cầm một ngọn. Hai bên bàn thờ, sẵn hai người trợ lý, gắn đèn vào chân đèn. Trước khi
dang tay, xá ba xa. Gắn ngọn đèn vào chân đèn phải cẩn thận, để đảm bảo ngọn đèn không
rơi, không ngã, tạo ra điềm xui xẻo.
Xong xuôi, chàng rể bước vào lạy, theo lệnh của ông mai. Thông thường chàng rể lạy bốn
lạy, lậy một mình. Sau đó, bày ra nghị thức lễ Công có: chàng rể lạy cha mẹ vợ, mỗi người
lạy hai lạy, nếu còn ông bà thì lạy ông bà trước. Đôi bông taiđược đưa vào phòng, từ
trước. Cô dâu bèn bước ra, đeo bôngtai, lạy ông bà chàng trai (nếu có) rồi xá chào (không
lạy) cha mẹ chồng, tự xưng là "con" (con dâu". Ông mai hoặc đại diện nhà trai đưa cô dâu
đến giới thiệu bà con bên chồng, đi theo có chú rể.
Xong xuôi, đại diện nhà gái đưa vài lễ vật như trà mứt, tượng trưng lên cúng bàn thờ, nếu
đàng trai mang rượu thì dùng rượu ấy mà cúng tổ tiên, với lời kấhn vái, giới thiệu tên họ
chàng rể, cầu được tổ tiên chứng giám. Tiệc đơn giản bàyra. Theo lời của ông mai, người
đại diện đàng trai (hoặc chính ông mai) đứng lên, nói rõ: "Đôi bên đã vui vẻ, buổi lễ đạt kết
quả, bênđàng gái như đã đồng ý rồi"
Đại diện nhà gái đứng lên cảm ơn và nói rõ đã chấp thuận. Nếu có đôi nhẫn, dịp này trai gái
đeo nhẫn cho nhau, hoặc nhờ người lớn tuổi đeo giùm. Ngày xưa, bày lễ dở mâm trầu, bố
trí sẳn, do chàng trai đem đến. Nay phần lớn đã giản lược. Đáng lý ra, chàng rể phải "làm
lễ", chờ được phân công làm vài công việc lặt vặt. Lễ "ở rể" đã bỏ từ lâu. Trước khi ra về,
nhà gái chú ý chia bánh mứt làm hai phần đồng đều, lấy một nửa, phân nửa kia đặt trở lại
trong quả và trên mâm cho đàng trai mang về gọi là "dằn mâm", "lợi quả", "lợi mặt" (lợi phải
chăng là "lại", theo nghĩa trả lại phân nửa?)
Theo lệ, từ đó, gặp dịp Trung Thu, ngày Tết, đàng trai tiếp tục đem quà, đàng gái cũng đáp
lễ. Thông thường, để cộc hôn nhân thành đạt, cần tránh dư luận của dòng họ, của chòm
xóm, bới lông tìm vết về lý lịch của cô dâu chú rể. Bởi vậy, đàng trai cho người đến bàn
bạc, định ngày cưới càng nhanh chóng càng tốt, chọn lựa lúc thời tiết nắng ráo, rảnh rang
việc đồng áng. Lại đề phòng trường hợp ông bà mất, chịu tang, đành đình hoãn, chờ mãn
tang. Thảo luận tỉ mỉ về chi tiết lễ cưới, ngày giờ rước dâu, đàng gái đến bao nhiêu người
để chuẩn bị tiệc tùng, phương tiện di chuyển như thế nào, sở phí tiệc tùng bên đàng gái do
ai đảm nhận.
Đáng lưu ý: để được cử hành nghiêm túc lễ: "Lên đđèn", cần đoán trước khá chính xác ni
tấc của đôi đèn, để gắn vào chân đèn cho chắc. Trên bàn thờ, thường đốt sẵn ngọn đèn
trứng vịt nhỏ, tiêu biểu cho ngọn lửa "hương hỏa" của dòng họ. phải dùng ngọn nến nhỏ, đốt
vào ngọn đèn dầu trên bàn thờ, rồi đốt ngọn nến lớn với ngọn lửa của nến nhỏ. Nếu vì lý do
nào đó, dùng hộp quẹt "ga" mà đốt vào ngọn nến lớn thì mất hết ý nghĩa. Lửa tiêu biểu cho
truyền thống, nối quá khứ của ông bà và hiện tại của con cháu.
Người lên đèn giữ thái độ nghiêm túc, chấp hai tay lại cho hai ngọn nến gần sát vào nhau.
Khi xá, phải vòng hai cánh tay cho xa, như hình tròn, đề phòng trường hợp ngọn lửa cháy
sát vào mặt, vào tóc. Lúc lên đèn, lúc chàng rể lạy, mọi người giữ im lặng, không nói
chuyện riêng.
Ngày nay, lể Hỏi tuy cần thiết nhưng khó tổ chức. Chẳng ai đủ thời giờ, bỏ suốt một buổi,
dầu là bà con, hoạ chăng người lớn tuổi thảnh thơi sống nhờ vả vào con cái. Ông mai, sui
trai sui gái thường là người hoạt động kinh tế, làm ruộng, mua bán, làm việc ở cơ quan, bận
rộn về tiểu thủ công nghiệp. Gặp nhau một buổi là xong, lúc rảnh rang thay cho lễ Hỏi. Nếu
chưa quen biết nhau, đàng trai đến thăm đàng gái, nhờ người lanh lẹ nào đó làm mai mối,
theo kiểu "ngoại giao lẻ". Lại đỡ tốn thời giờ vận chuyển , cản trở lưu thông, bao thuê xe cộ.
Quần áo, thậm chí những quả, mâ, bánh mứt đã có những hiệu chuyên làm dịch...
 





