Tình Thày Trò

Tài nguyên thư viện

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Video giới thiệu sách

    Sách lật

    ý nghĩa ngày nhà giáo Việt Nam 20/11

    Ảnh ngẫu nhiên

    Lehoitaynguyen3.jpg NhaRongvanhungdieuthuvi.jpg 29112018p51.jpg

    💕💕 NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG BẠN ĐỌC ĐẾN THĂM WEBSITE THƯ VIỆN TRƯỜNG PTDTBT TIỂU HỌC XÃ HIẾU - QUẢNG NGÃI💕💕

    Hoa hậu Hoàn Vũ Việt Nam 2017 H'hen Niê đọc sách tranh Sóc con đi học

    Chào mừng quý vị đến với website của

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Tương lai hậu nhân loại Hậu quả của cách mạng Công nghệ sinh học

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Trần Thị Hạnh
    Ngày gửi: 16h:23' 12-07-2025
    Dung lượng: 1.4 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    https://thuviensach.vn

     

    Mục lục
    LỜI NÓI ĐẦU
    PHẦN I - ĐƯỜNG ĐẾN TƯƠNG LAI
    1 - CÂU CHUYỆN VỀ HAI ĐỊA NGỤC TRẦN GIAN
    2- KHOA HỌC VỀ NÃO BỘ
    3 - DƯỢC HỌC THẦN KINH VÀ VIỆC KIỂM SOÁT HÀNH VI
    4 - TĂNG TUỔI THỌ
    5 - CÔNG NGHỆ DI TRUYỀN
    6 - TẠI SAO CHÚNG TA PHẢI LO LẮNG
    PHẦN II: LÀ CON NGƯỜI
    7 - NHÂN QUYỀN
    8 - BẢN CHẤT TỰ NHIÊN CỦA CON NGƯỜI
    9 - NHÂN PHẨM
    PHẦN III: PHẢI LÀM GÌ
    10 - DÙNG CHÍNH TRỊ KIỂM SOÁT CÔNG NGHỆ SINH HỌC
    11 - HIỆN NAY CÔNG NGHỆ SINH HỌC ĐƯỢC KIỂM SOÁT RA SAO
    12 - CÁC CHÍNH SÁCH TRONG TƯƠNG LAI
    GHI CHÚ

     
     
     

    https://thuviensach.vn

    Thế là đủ rồi: đã đến lúc chính trị sẽ có một ý nghĩa khác.
    Friedrich Nietzsche, The Will to Power, Phần 960
     

    https://thuviensach.vn

    LỜI NÓI ĐẦU
     
    Đối với một người mà những năm gần đây chỉ chuyên tâm đến các vấn
    đề văn hóa và kinh tế thì viết một quyển sách về công nghệ sinh học xem ra
    quả thật là một bước nhảy vọt, nhưng thực ra việc này không điên như
    người ta nghĩ.
    Khoảng đầu năm 1999, Owen Harries, biên tập viên tờ The National
    Interest, mời tôi viết một bài nhìn lại mười năm sau bài viết “Sự kết thúc
    của lịch sử?” do tôi viết và được ông cho đăng vào mùa hè 1989. Trong bài
    báo này, tôi đã lý luận là Hegel đã đúng khi ông cho rằng lịch sử nhân loại
    đã kết thúc vào năm 1806, bởi vì không thấy có bước tiến chủ yếu nào
    trong chính trị sau những nguyên tắc được Cách mạng Pháp đề ra và được
    củng cố bởi chiến thắng của Napoleon trong Trận Jena cùng năm đó. Sự tan
    rã của Liên bang Xô viết vào năm 1989 báo hiệu một sự hội tụ rộng lớn
    hơn hướng đến nền dân chủ tự do toàn cầu.
    Trong quá trình suy ngẫm về những lời phê bình về cho bài báo ấy, tôi
    thấy duy nhất có một lời phê bình tôi không thể phản biện được: đó là
    không thể nào có sự kết thúc của lịch sử trừ phi khoa học kết thúc. 
    Như tôi đã mô tả cơ chế tiến triển của lịch sử thế giới trong quyển sách
    tôi viết tiếp theo bài báo nói trên, The End of History and the Last Man (Sự
    kết thúc của lịch sử và Con Người cuối cùng) sự phát triển của khoa học tự
    nhiên và công nghệ hiện đại đã nổi lên thành một trong những động lực
    chính yếu cho cơ chế này. Phần lớn công nghệ ở cuối thế kỷ 20, như cái gọi
    là cuộc Cách mạng Thông tin, đã tạo thuận lợi cho việc mở rộng nền dân
    chủ tự do. Nhưng chúng ta chưa hề đến gần sự kết thúc của khoa học, và
    thật ra, chúng ta dường như đang đứng giữa thời kỳ cực kỳ tiến bộ của các
    ngành khoa học về đời sống.
    Trong mọi sự kiện, tôi luôn nghĩ đến tác động của sinh học hiện đại lên
    hiểu biết của chúng ta về chính trị vào lúc nào đó. Suy nghĩ này đã được

    https://thuviensach.vn

    nhen nhóm từ một nhóm nghiên cứu do tôi chỉ đạo trong nhiều năm nay về
    tác động của những ngành khoa học mới đối với nền chính trị quốc tế. Một
    số những suy nghĩ ban đầu của tôi về vấn đề này đã được phản ánh trong
    quyển The Great Disruption (Sự gẫy đổ lớn lao), cuốn sách viết về vấn đề
    bản chất con người và những chuẩn mực, và tầm hiểu biết của chúng ta về
    vấn đề này đã được định hình như thế nào bởi thông tin thực nghiệm từ
    những lĩnh vực nghiên cứu hành vi con người, sinh học tiến hóa, và khoa
    học thần kinh về nhận thức. Nhưng lời mời tôi viết bài báo nhìn lại “sự kết
    thúc của lịch sử” đã tạo cơ hội khiến tôi bắt đầu suy nghĩ về tương lai theo
    một cách có hệ thống hơn, dẫn đến việc ra đời bài báo được đăng trên tờ
    The National Interest vào năm 1999 với tựa đề: “Second Thoughts: The
    Last Man in a Bottle” (“Nghĩ lại: Người Cuối cùng trong chai”). Và tác
    phẩm các bạn đang đọc là một sự bàn luận mở rộng những điều đã được đề
    cập lần đầu tiên trong bài báo vừa nói.
    Những cuộc tấn công khủng bố nước Mỹ vào ngày 11 tháng 9 năm 2001
    một lần nữa đã làm dấy lên những nghi ngờ về giả thuyết kết-thúc- củalịch-sử, lần này sự nghi ngờ dựa trên nền tảng là chúng ta đang chứng kiến
    một sự “đụng độ của các nền văn minh” (nói theo nguyên văn câu của
    Samuel P. Huntington) giữa thế giới phương Tây và thế giới Hồi giáo. Tôi
    không tin là những biến cố trong ngày nói trên lại có ý nghĩa như vậy, tôi
    tin là việc thuyết cấp tiến Hồi giáo thúc đẩy những cuộc tấn công này chỉ là
    một phản ứng tự vệ tuyệt vọng và đến một lúc nào đó phản ứng ấy sẽ bị
    trấn áp bởi làn sóng trải rộng hơn của sự hiện đại hóa. Tuy nhiên, những
    biến cố này đã chỉ ra một thực tế rằng bản thân khoa học và công nghệ,
    nguồn gốc của thế giới hiện đại, là những điểm yếu then chốt của nền văn
    minh của chúng ta. Máy bay, tòa nhà chọc trời và những phòng thí nghiệm
    sinh học – tất cả những biểu tượng của tính hiện đại – đều được biến thành
    vũ khí trong một cơn bộc phát ác ý. Khối lượng ác ý hiện tại không liên
    quan đến vũ khí sinh học, mà liên quan đến sự xuất hiện của chủ nghĩa
    khủng bố sinh học biến người nghèo thành những mối đe dọa sống, được

    https://thuviensach.vn

    vạch ra trong quyển sách này, đòi hỏi kiểm soát chính trị rộng hơn nữa đối
    với việc sử dụng khoa học và công nghệ.
    Không cần phải nói, các độc giả cũng biết là đã có nhiều người giúp tôi
    trong đề án nghiên cứu dẫn đến việc viết ra tác phẩm này, và tôi muốn nói
    lời cám ơn họ. Đó là David Armor, Larry Arnhart, Scott Barrett, Peter
    Berkowitz, Mary Cannon, Steve Clemons, Eric Cohen, Mark Cordover,
    Richard Doerflinger, Bill Drake, Terry Eastland, Robin Fox, Hillel Fradkin,
    Andrew Franklin, Franco Furger, Jonathan Galassi, Tony Gilland, Richard
    Hassing, Richard Hayes, George Holmgren, Leon Kass, Bill Kristol, Jay
    Lefkowitz, Mark Lilla, Michael Lind, Michael McGuire, David Prentice,
    Gary Schmitt, Abram Shulsky, Gregory Stock, Richard Velkley, Caroline
    Wagner, Marc Wheat, Edward
    O. Wilson, Adam Wolfson, và Robert Wright. Tôi rất cám ơn đại diện
    xuất bản của tôi – Esther Newberg, và tất cả mọi người ở International
    Creative Management đã giúp tôi trong những năm tháng qua. Cám ơn
    những phụ tá nghiên cứu của tôi – Mike Curtis, Ben Allen, Christine
    Pommerening, Sanjay Marwah, và Brian Grow – về sự đóng góp vô cùng
    quý báu của họ. Tôi cũng cám ơn Bradley Foundation đã cung cấp sự hỗ
    trợ qua các học bổng góp phần vào đề án nghiên cứu này. Cám ơn Cynthia
    Paddock, trợ lý toàn diện của tôi, người đã đóng góp vào công đoạn cuối
    cùng của bản thảo này. Và, như thường lệ, tôi luôn cám ơn Laura – vợ tôi –
    nhà phê bình có tư duy sâu sắc về quyển sách và về những vấn đề mà cô ấy
    có những quan điểm thật vững chắc.
     

    https://thuviensach.vn

    PHẦN I - ĐƯỜNG ĐẾN TƯƠNG LAI
     
    1 - CÂU CHUYỆN VỀ HAI ĐỊA NGỤC TRẦN GIAN
     
    Mối đe dọa đối với loài người không bắt đầu từ những cỗ máy và
    linh kiện công nghệ có tiềm năng gây chết người. Mối đe dọa thật
    sự lúc nào cũng tác động đến con người ở điều cốt lõi. Quyền lực
    của sự đóng khung tư tưởng (Gestell) đe dọa con người bằng cái
    khả năng làm cho con người không thể tiến đến khám phá độc
    đáo hơn và từ đó trải nghiệm sự thôi thúc của một chân lý quan
    trọng hơn.
    Martin Heidegger, The Question Concerning Technology
    Tôi được sinh ra vào năm 1952, ngay đúng giữa thời kỳ bùng nổ dân số
    tại Mỹ. Đối với những ai đã từng lớn lên theo cách tôi đã lớn lên trong
    những thập niên giữa thế kỷ 20, tương lai và những viễn cảnh đáng sợ của
    nó đã được định nghĩa qua hai quyển sách, một của George Orwell – 1984
    (xuất bản lần đầu năm 1949) và một của Aldous Huxley – Brave New
    World (xuất bản năm 1932).
    Cả hai quyển sách này đều đã có tầm nhìn tiên tri rất xa so với tầm nhận
    thức của bất kỳ ai sống vào thời kỳ sách ra đời, bởi vì cả hai đã tập trung
    vào hai ngành công nghệ khác nhau thật sự đã xuất hiện và định hình thế
    giới trong hai thế hệ kế tiếp. Quyển 1984 nói về cái mà ngày nay chúng ta
    gọi là công nghệ thông tin: tâm điểm sự thành công của đế chế chuyên chế,
    trải rộng mênh mông ở xứ Oceania được tạo dựng bởi một cỗ máy gọi là
    màn hình (telescreen) – một màn hình phẳng có kích thước bằng một bức
    tường, cùng lúc phát và nhận hình ảnh, từ trong nhà một người dân thường
    đến đại bản doanh của một Big Brother. Màn hình là công cụ cho phép
    trung ương tập quyền hóa cuộc sống xã hội dưới quyền kiểm soát của Bộ
    Sự thật (Ministry of Truth) và Bộ Tình yêu thương (Ministry of Love), bởi

    https://thuviensach.vn

    vì nó cho phép nhà nước hủy bỏ mọi đời sống riêng tư cá nhân bằng cách
    dùng một mạng lưới khổng lồ được tạo bởi các dây dẫn để kiểm soát mọi
    lời nói và hành động của cá nhân.
    Quyển Brave New World, trái lại, nói về một cuộc cách mạng công nghệ
    lớn khác sắp xảy ra – đó là công nghệ sinh học. Bokanovskification – tức
    việc thụ thai con người trong ống nghiệm chứ không phải trong tử cung –
    như chúng ta nói ngày nay; linh dược cho con người hạnh phúc tức thì;
    Feelies – kỹ thuật dùng điện cực kích thích cảm giác; và chuyển đổi hành vi
    qua việc liên tục nhắc đi nhắc lại đánh vào tiềm thức và – khi các kỹ thuật
    trên không thành công – đưa vào cơ thể những kích thích tố nhân tạo; tất cả
    những viễn cảnh khoa học giả tưởng do quyển sách đem lại đã tạo ra một
    cảm giác ghê rợn đặc biệt cho người đọc.
    Với khoảng thời gian dài bằng nửa thế kỷ phân cách chúng ta với lần
    xuất bản đầu tiên của hai quyển sách nói trên, chúng ta có thể thấy là trong
    khi các dự báo công nghệ được mô tả trong hai quyển sách này đã khiến
    chúng ta kinh ngạc vì ngày nay chúng đã trở thành hiện thực, thì các dự báo
    chính trị được đề cập trong quyển sách đầu – 1984 – lại hoàn toàn sai. Năm
    1984 hiện thực đã đến và rồi đã đi, với việc Mỹ vẫn bị mắc kẹt trong cuộc
    Chiến tranh lạnh với Liên bang Xô viết. Năm 1984 hiện thực đã thấy mô
    hình đầu tiên của máy tính cá nhân do hãng IBM giới thiệu và sự khởi đầu
    của cái sẽ trở thành cuộc cách mạng máy tính cá nhân. Như Peter Huber đã
    lý luận, máy tính cá nhân, nối mạng Internet, đã thật sự hiện thực hóa màn
    hình2 của Orwell. Nhưng, thay vì trở thành một công cụ trung ương tập
    quyền và độc tài chuyên quyền, nó đã dẫn đến một hướng trái ngược hẳn:
    dân chủ hóa con đường tiếp cận thông tin và phi tập quyền chính trị. Thay
    vì có một Big Brother theo dõi từng người một, mọi người đều có thể sử
    dụng máy vi tính và mạng Internet để theo dõi Big Brother, tức nhà nước
    của mọi quốc gia đều phải hướng đến việc phổ biến nhiều thông tin hơn về
    các hoạt động của mình.
    Lời tiên tri mang tính chính trị về một địa ngục trần gian khác được đề ra
    trong quyển Brave New World vẫn đang còn trong giai đoạn đợi chờ để trở

    https://thuviensach.vn

    thành hiện thực. Rất nhiều công nghệ đã được Huxley dự kiến trong quyển
    sách này, thí dụ như kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm, mang thai hộ,
    thuốc tác động tâm thần, và công nghệ di truyền để chế tạo ra trẻ em, hiện
    nay hoặc đã có hoặc đang trong giai đoạn hướng tới. Tuy nhiên, cuộc cách
    mạng này vẫn còn đang trong giai đoạn khởi đầu; những công bố dồn dập
    về những đột phá và thành tựu trong ngành công nghệ y-sinh học, thí dụ
    như việc hoàn tất Đề án Bản đồ gene người (Human Genome Project) vào
    năm 2000, là tín hiệu báo trước sẽ còn nhiều thay đổi quan trọng hơn nữa.
    Trong số những cơn ác mộng do hai quyển sách này gợi ra, những cơn ác
    mộng của quyển Brave New World đã tạo ấn tượng mạnh cho tôi vì chúng
    tinh vi và mang tính thách thức hơn. Ta dễ dàng thấy điều sai lầm trong thế
    giới được mô tả trong quyển 1984: nhân vật đối lập – Winston Smith – kẻ
    thù ghét loài chuột cống hơn bất kỳ thứ gì khác, do đó nhân vật Big Brother
    đã thiết kế ra một cái lồng trong đó các con chuột cống có thể cắn nát mặt
    của Smith khiến anh ta hãi sợ đến mức chấp nhận phản bội người yêu của
    mình. Đây là thế giới của chế độ độc tài kinh điển, có được quyền lực nhờ
    vào kỹ thuật công nghệ, tuy nhiên, thế giới này không khác biệt là bao so
    với những thảm kịch chúng ta đã từng thấy và biết đến trong lịch sử nhân
    loại. 
    Trái lại, trong thế giới mà Brave New World mô tả, cái ác không hiển
    nhiên như trong quyển sách kể trên vì không có nhân vật nào bị tổn hại;
    thật vậy, đây là một thế giới mà ai cũng có được điều mình muốn có. Như
    một nhân vật đã ghi nhận: “Những Kiểm soát viên đã nhận thức rằng sự ép
    buộc chẳng có gì hay cả,” và rằng con người nên bị lôi cuốn hơn là bị ép
    buộc sống trong một xã hội trật tự. Trong thế giới này, bệnh tật và mâu
    thuẫn xã hội đã bị triệt phá, không có tâm trạng trầm cảm, điên cuồng, cô
    đơn, hoặc rối loạn cảm xúc; tình dục luôn ở tình trạng tốt và sẵn sàng. Còn
    có cả sự hỗ trợ của nhà nước để đảm bảo cho khoảng thời gian giữa sự xuất
    hiện của một ham muốn và sự thỏa mãn ham muốn được rút ngắn tới mức
    tối đa. Không còn nhân vật nào coi tôn giáo là điều nghiêm túc, không còn
    ai sống hướng nội và cũng không có sự khao khát nào không thể thỏa mãn

    https://thuviensach.vn

    được, gia đình sinh học bị xóa bỏ, không còn ai đọc Shakespeare. Và cũng
    chẳng có nhân vật nào tỏ ra tiếc nuối các điều bị xóa bỏ (ngoại trừ nhân vật
    đối lập – John Man Di) bởi vì họ sống vui khỏe.
    Từ khi quyển sách này được xuất bản, hình như đã có hàng triệu bài luận
    văn của học sinh trung học được viết để trả lời câu hỏi: “Có điều gì sai trái
    trong thế giới được mô tả trong quyển sách này?” Câu trả lời (trong các bài
    luận văn được điểm A) thường như sau: những nhân vật trong Brave New
    World có thể sống vui khỏe, nhưng họ đã không còn là con người. Họ
    không còn tranh đấu, khao khát, thương yêu, cảm nhận đau khổ, họ không
    có những chọn lựa khó khăn về mặt đạo đức, có gia đình, họ cũng không
    làm bất kỳ điều gì mà chúng ta
    – theo truyền thống – vẫn gắn liền với việc làm người. Họ không còn
    những nét đặc trưng tạo dựng nhân phẩm cho chúng ta. Thật vậy, không
    còn gì liên quan đến loài người, bởi vì họ được sản sinh bởi các Kiểm soát
    viên để trở thành các giai cấp khác nhau như Alpha, Beta, Epsilon, và
    Gamma, xa rời nhau y như con người xa rời con thú. Thế giới của họ trở
    thành phi tự nhiên theo nghĩa sâu sắc nhất mà ta có thể nghĩ ra, bởi vì bản
    chất con người đã bị thay đổi. Nói theo lời của nhà đạo đức sinh học, Leon
    Kass, “Khác với con người bị bệnh tật hoặc sự nô lệ làm giảm nhân phẩm,
    con người bị mất tính nhân bản theo kiểu Brave New World không khốn
    khổ, không biết là mình đã bị mất tính nhân bản, và điều tệ hại hơn nữa, họ
    cũng chẳng thèm quan tâm nếu như họ biết điều ấy. Thật vậy, họ là những
    người nô lệ sung sướng trong niềm hạnh phúc được làm nô lệ.”3
    Tuy nhiên, dù cái kiểu trả lời như thế này thường cũng đã đủ tầm mức để
    tạo sự hài lòng cho các thầy cô dạy Anh văn tại một trường trung học kinh
    điển, nó vẫn chưa đủ đào sâu nhận thức (theo như Kass tiếp tục nhận định).
    Bởi vì ta có thể hỏi tiếp, Điều gì khiến việc làm người là điều quan trọng
    theo phương thức truyền thống được định nghĩa bởi Huxley? Dù sao, cái
    con người ngày nay cũng đã là sản phẩm của một tiến trình tiến hóa đã tiếp
    diễn trong hàng triệu năm, một quy trình có cơ may sẽ tiếp tục tốt đẹp trong
    tương lai. Không có một tính cách con người cố định, ngoại trừ một khả

    https://thuviensach.vn

    năng chung là khả năng chọn con người mình muốn trở thành, là khả năng
    sửa đổi mình cho phù hợp với điều mình mong muốn. Vậy, ai là người sẽ
    nói được với chúng ta là làm người và có nhân phẩm có nghĩa là gắn chặt
    với một hệ thống các phản ứng cảm xúc, vốn là những sản phẩm phụ vô
    tình được sản sinh trong lịch sử tiến hóa của chúng ta? Không có những thứ
    gọi là gia đình sinh học, là bản chất con người hoặc một con người “bình
    thường”, và ngay cả khi cứ cho là chúng có đi nữa, tại sao phải coi đó là
    kim chỉ nam cho chuyện đúng sai? Thật ra, Huxley muốn nói với chúng ta
    là chúng ta nên tiếp tục cảm nhận nỗi đau, trầm cảm hoặc cô đơn, hoặc khổ
    đau vì một căn bệnh nào đó, tất cả là vì đó là những gì con người đã làm
    trong phần lớn thời gian loài người hiện hữu. Thay vì lấy các đặc tính này
    làm nền tảng cho “nhân phẩm”, tại sao chúng ta không đơn giản chấp nhận
    số mạng của chúng ta là những sinh vật tự chỉnh sửa?
    Huxley gợi ý tôn giáo là một nguồn định nghĩa cho ý nghĩa của việc làm
    người. Trong Brave New World, tôn giáo đã bị xóa bỏ và Ki-tô giáo trở
    thành một ký ức xa vời. Truyền thống Ki-tô giáo duy trì ý niệm con người
    được sinh ra theo hình ảnh Chúa Trời, đó là nguồn gốc của nhân phẩm.
    Như vậy, việc sử dụng công nghệ sinh học để dấn thân vào cái mà một nhà
    văn Ki-tô giáo khác – C.S. Lewis – gọi là “sự xóa bỏ con người” sẽ mạo
    phạm ý Chúa Trời. Tuy nhiên, tôi không nghĩ là khi ta đọc kỹ Huxley hoặc
    Lewis, ta có thể đi đến kết luận là hai tác giả này tin rằng tôn giáo là nền
    tảng duy nhất giúp con người có thể hiểu rõ được ý nghĩa thế nào là con
    người. Cả hai nhà văn đều gợi ý rằng bản chất tự thân, và đặc biệt là bản
    chất con người, đóng một vai trò đặc biệt trong việc định nghĩa cho chúng
    ta biết phải trái đúng sai, điều gì là công bằng và điều gì là không công
    bằng, điều gì là quan trọng và điều gì là không quan trọng. Do đó phán xét
    cuối cùng về “điều gì sai trái” trong Brave New World của Huxley sẽ được
    biện minh hoặc bị phủ nhận tùy theo quan điểm của chúng ta về tầm quan
    trọng của bản chất con người (nhân bản) khi bản chất này được coi là
    nguồn gốc của các giá trị.

    https://thuviensach.vn

    Mục tiêu của quyển sách này là biện luận rằng Huxley đúng, rằng mối đe
    dọa quan trọng nhất do công nghệ hiện đại đặt ra là khả năng khiến bản
    chất con người thay đổi và do đó, sẽ dẫn chúng ta đến thời kỳ “hậu nhân
    loại” trong lịch sử loài người. Tôi sẽ lập luận rằng điều này là quan trọng,
    bởi vì bản chất con người hiện hữu, là một khái niệm có ý nghĩa, và đã
    cung cấp một sự ổn định liên tục cho trải nghiệm của chúng ta với tư cách
    một con người. Bản chất này, cùng với tôn giáo, định nghĩa những giá trị cơ
    bản nhất của chúng ta. Bản chất con người định hình và giới hạn các thể
    loại có thể có của các thể chế chính trị, do đó một nền công nghệ có đủ
    tiềm lực để có thể tái định hình cái chúng ta đang là sẽ có thể tạo những
    hậu quả xấu cho nền dân chủ tự do và cho bản thân của bản chất chính trị.
    Có thể, như trường hợp của 1984, rốt cuộc chúng ta sẽ thấy các hậu quả
    do ngành công nghệ sinh học đem lại hoàn toàn không gây hại một cách
    đáng ngạc nhiên, và cũng thấy rằng chúng ta đã lo lắng đến mất ngủ một
    cách vô cớ. Có thể cuối cùng công nghệ này lại tỏ ra không có năng lực
    nhiều như ta đang nghĩ bây giờ, hoặc có thể con người sẽ chừng mực và
    cẩn trọng trong việc ứng dụng công nghệ này. Nhưng có một điều khiến tôi
    không hoàn toàn tin tưởng một cách lạc quan như vậy, đó là ngành công
    nghệ sinh học, trái với nhiều tiến bộ khoa học khác, ngành này hiển nhiên
    pha trộn một cách tinh tế, trong cùng một gói, các điểm lợi và các điểm hại.
    Ngay từ ban đầu, vũ khí nguyên tử và năng lượng nguyên tử được nhìn
    nhận là nguy hiểm, và do đó là những mục tiêu được kiểm soát chặt chẽ
    ngay từ thời điểm Kế hoạch Manhattan sản xuất quả bom nguyên tử đầu
    tiên vào năm 1945. Các nhà quan sát, như Bill Joy, đã lo lắng về công nghệ
    nano – coi đó là những cỗ máy có khả năng tự sao chép ở mức độ phân tử
    để có thể sản sinh một cách không thể kiểm soát được và do đó có thể hủy
    diệt những người sáng tạo ra chúng.4 Tuy nhiên, những mối đe dọa theo
    kiểu này thật ra là những mối đe dọa dễ đối phó nhất bởi vì chúng quá hiển
    nhiên. Nếu như bạn thấy mình dễ dàng có nguy cơ bị một cỗ máy do chính
    bạn sáng chế giết chết, dĩ nhiên bạn sẽ nghĩ ra những giải pháp bảo vệ

    https://thuviensach.vn

    mình. Và như vậy, cho đến giờ chúng ta đã có thành tích kiểm soát một
    cách hợp lý các máy công nghệ nano này.
    Tương tự, có thể có những sản phẩm công nghệ sinh học cho thấy rõ
    những hiểm họa chúng có thể gây ra cho loài người – thí dụ như những siêu
    bọ, những virus mới, hoặc thực phẩm biến đổi gene gây ra những phản ứng
    ngộ độc. Cũng giống như vũ khí nguyên tử hoặc công nghệ nano, theo một
    cách nào đó, những sản phẩm này dễ dàng giải quyết nhất bởi vì một khi
    chúng ta đã nhận thức được chúng có thể gây nguy hiểm, chúng ta sẽ thẳng
    thừng coi chúng là mối đe dọa và có cách để trị chúng. Mặt khác, các mối
    đe dọa điển hình bắt nguồn từ công nghệ sinh học là những mối đe dọa
    được Huxley nắm bắt rất kỹ, và được tóm tắt qua tựa đề một bài báo của
    nhà văn Tom Wolfe, “Xin lỗi, nhưng đành phải nói là Linh hồn của bạn vừa
    mới chết đi.”5 Trong nhiều trường hợp, công nghệ y khoa đã đưa ra cho
    chúng ta những cuộc mặc cả với quỷ dữ: giúp kéo dài thời gian sống nhưng
    trong tình trạng khả năng trí tuệ bị giảm sút; không bị trầm cảm nhưng mất
    tư duy sáng tạo hoặc mất tinh thần; những liệu pháp khiến chúng ta không
    còn sáng suốt nhận biết được ranh giới giữa những điều chúng ta làm được
    do chính khả năng chúng ta và những điều chúng ta làm được nhờ vào các
    liều hóa chất khác nhau tác dụng lên não chúng ta.
    Chúng ta thử xem ba kịch bản sau, cả ba đều có khả năng xảy ra trong
    một hoặc hai thế hệ sắp tới rõ rệt.
    Khả năng đầu tiên liên quan đến các dược phẩm mới. Từ những kết quả
    có được do tiến bộ trong ngành dược học thần kinh, các nhà tâm lý học đã
    khám phá ra rằng tâm tính con người dễ nhào nặn hơn ta nghĩ. Các thuốc
    tác động tâm thần, như Prozac và Ritalin, có thể ảnh hưởng lên tính cách
    như cải thiện lòng tự hào và khả năng tập trung tinh thần, nhưng chúng
    cũng có thể gây ra các phản ứng phụ và do đó chúng bị hạn chế chỉ định
    dùng và chỉ được dùng khi có nhu cầu trị liệu rõ ràng. Tuy nhiên, trong
    tương lai, khi kiến thức về bản đồ gene cho phép các công ty dược điều chế
    dược phẩm của họ một cách thật đặc hiệu cho các thể loại gene khác nhau,
    tương ứng với từng cá nhân bệnh nhân và nhờ đó sẽ giảm thiểu đến mức tối

    https://thuviensach.vn

    đa các tác dụng phụ. Những người ù lì có thể trở nên năng động hơn; những
    người hướng nội sẽ hướng ngoại hơn; bạn có thể có tính cách này vào ngày
    thứ tư và tính cách khác vào cuối tuần. Sẽ không còn lý do nào để bất kỳ ai
    có quyền cảm thấy trầm cảm hoặc buồn phiền; ngay cả một người vui vẻ
    một cách “bình thường” cũng sẽ khiến mình vui hơn mà không sợ bị nghiện
    thuốc, bị khó chịu sau chầu nhậu, hoặc tổn thương dài lâu về não bộ.
    Trong kịch bản thứ hai, tiến bộ trong ngành nghiên cứu về tế bào gốc cho
    phép các nhà khoa học nghĩ đến việc tái sinh mọi thể loại mô trong cơ thể,
    đến mức tuổi thọ có thể được đẩy lên đến trên 100 tuổi. Nếu như bạn cần
    có một trái tim hoặc một lá gan mới, chỉ việc cấy nó trong lồng ngực một
    con heo hoặc một con bò (ND chú thích: để rồi sau đó đem ghép nó vào
    người bạn); não bộ bị tổn thương do bệnh Alzheimer hoặc tai biến có thể
    được hồi phục. Vấn đề duy nhất là có nhiều mặt tinh tế và một số mặt
    không-mấy-tinh tế trong tiến trình lão hóa con người khiến ngành công
    nghệ sinh học chưa nghĩ ra cách giải quyết được hoàn toàn: thí dụ con
    người có trí tuệ xơ cứng dần và trở nên bảo thủ về mặt tư duy theo với tuổi
    già, và dù cho họ có cố gắng, họ không thể tiếp tục làm cho mình quyến rũ
    trong mắt người phối ngẫu và ngược lại cũng không còn thấy người phối
    ngẫu quyến rũ nữa, và họ khao khát có bạn tình ở độ tuổi trẻ trung còn sinh
    nở được. Điều tệ nhất là họ không chịu tách ra khỏi cuộc sống, không
    những của con cái họ, mà còn của các cháu chắt họ nữa. Mặt khác, sẽ có
    quá ít người sinh con hoặc có bất kỳ liên hệ nào đến quy trình sinh nở
    truyền thống, do đó việc sinh sản truyền thống chẳng còn mấy ý nghĩa.
    Trong kịch bản thứ ba, các phôi thai khỏe mạnh được kiểm tra đều đặn
    trước khi cấy để tối ưu hóa khả năng con người có con thuộc thể loại mình
    muốn. Bạn có thể tăng khả năng đoán được nền tảng xã hội của một người
    trẻ tuổi nào đó dựa vào dáng dấp và trí thông minh của người ấy; nếu như
    có ai đó không đạt được chuẩn mực do xã hội đề ra, người ấy sẽ có khuynh
    hướng đổ lỗi do cha mẹ mình đã chọn gene xấu thay vì nhận đó là lỗi của
    chính mình. Vì mục đích nghiên cứu và để có thể sản xuất ra các sản phẩm
    y khoa mới, gene của người đã được chuyển sang các loài vật và ngay cả

    https://thuviensach.vn

    các loài cây cỏ; và gene của loài thú đã được cấy thêm vào một số phôi thai
    của con người để giúp con người gia tăng sức chịu đựng của cơ thể hoặc
    sức đề kháng với bệnh tật. Các nhà khoa học không dám nghĩ đến việc sản
    xuất ra một quái vật hoàn toàn huyền thoại – nửa người nửa khỉ – mặc dù
    họ có khả năng làm việc đó; tuy nhiên những người trẻ tuổi bắt đầu cho
    rằng những bạn cùng lớp yếu kém hơn họ thật sự không hoàn toàn là con
    người về mặt gene. Bởi vì, thật sự, chính những người trẻ tuổi này không
    có tính người.
    Xin lỗi, nhưng đành phải nói linh hồn bạn vừa mới chết đi... 
    Về cuối đời mình, Thomas Jefferson đã viết, “Tầm trải rộng bao quát của
    ánh sáng khoa học đã mở ra trước mắt mọi người một sự thật có thể sờ nắn
    được này, đó là không phải đa số con người bị sinh ra với cái yên ngựa đeo
    trên lưng họ, cũng như không phải một thiểu số con người được ưu tiên
    sinh ra với đôi ủng có đinh thúc ngựa sẵn sàng cưỡi lên lưng của đa số kia
    một cách hợp pháp, nhờ ơn Chúa Trời định.”6 Sự bình đẳng về mặt chính
    trị này, đã được thiêng liêng hóa bởi bản Tuyên ngôn Độc lập, dựa trên thực
    tế đã được chứng minh về sự bình đẳng tự nhiên có của con người. Chúng
    ta khác nhau rất nhiều về mặt cá nhân cũng như văn hóa, nhưng chúng ta
    cùng chia sẻ nhân tính cho phép mỗi con người đều có tiềm năng giao tiếp
    và thiết lập một quan hệ có đạo đức với mọi con người khác trên hành tinh
    này. Câu hỏi tận cùng nhất được công nghệ sinh học khơi gợi ra là: Cái gì
    sẽ xảy đến cho quyền con người về mặt chính trị một khi chúng ta, thật sự,
    có khả năng sinh sản những người phải đeo yên ngựa trên lưng và những
    người có ủng và đinh thúc ngựa để cưỡi lên lưng những người kia. 
    MỘT GIẢI PHÁP ĐƠN GIẢN
    Chúng ta phải làm gì để ứng phó với nền công nghệ sinh học mà trong
    tương lai sẽ trộn lẫn các điểm lợi đầy tiềm năng với các điểm hại hoặc
    mang tính thể chất và thấy rõ, hoặc mang tính tinh thần và khó thấy? Câu
    trả lời thật hiển nhiên: Chúng ta nên sử dụng quyền lực pháp trị của nhà
    nước để quản lý nó. Và nếu như việc quản lý này tỏ ra vượt ngoài quyền

    https://thuviensach.vn

    lực của bất kỳ một nhà nước đơn lẻ nào, thì nó cần được thực hiện ở tầm
    mức quốc tế. Vào lúc này, chúng ta cần bắt đầu suy nghĩ cụ thể để tìm cách
    phân biệt được việc sử dụng công nghệ sinh học đúng và sai, và củng cố
    một cách hiệu quả các quy chế ở tầm mức quốc gia và quốc tế. 
    Tuy nhiên, câu trả lời hiển nhiên này lại không tỏ ra hiển nhiên đối với
    nhiều người tham gia vào cuộc tranh luận hiện tại về ngành công nghệ sinh
    học. Cuộc tranh luận vẫn còn đang đắm chìm ở tầm mức tương đối trừu
    tượng liên quan đến khía cạnh đạo đức của các quy trình, thí dụ như sinh
    sản vô tính hoặc nghiên cứu tế bào gốc, và phân thành hai trường phái:
    trường phái mong muốn cho phép tiến hành mọi điều và trường phái mong
    muốn cấm đoán mọi lĩnh vực nghiên cứu và thực hành. Một cuộc tranh
    luận mở rộng dĩ nhiên quan trọng, nhưng các sự kiện đang chuyển biến quá
    nhanh khiến chúng ta cần nhanh chóng có hướng dẫn cụ thể hơn về đường
    hướng phát triển trong tương lai để ngành công nghệ này tiếp tục phục vụ
    con người thay vì trở thành làm chủ con người. Bởi vì dường như chúng ta
    không thể cho phép làm mọi chuyện nhưng cũng không thể cấm đoán
    những nghiên cứu có tiềm năng, nên chúng ta cần tìm ra một điểm dung
    hòa.
    Tạo dựng các thể chế quản lý mới là một việc không thể coi nhẹ khi sự
    thiếu hiệu quả vây quanh mọi nỗ lực liên quan đến quản lý. Trong ba thập
    niên vừa qua, đã có một phong trào toàn cầu về bãi bỏ quản lý nhiều lĩnh
    vực của mọi nền kinh tế quốc gia, từ ngành hàng không đến ngành bưu
    chính viễn thông, và ngày càng mở rộng hơn để tiến đến giảm thiểu tầm
    mức và lĩnh vực quản lý của nhà nước. Kết quả của việc này là nền kinh tế
    toàn cầu trỗi dậy quá cả là một cỗ máy sản xuất sự giàu có và cải tiến công
    nghệ hiệu quả.
    Nhưng điều quan trọng là ta cần phải phân biệt được rằng điều thành
    công trong một lĩnh vực kinh tế này không có nghĩa là nó sẽ thành công
    trong một lĩnh vực kinh tế khác. Thí dụ ngành công nghệ thông tin đã sản
    xuất ra nhiều điều lợi cho xã hội và tương đối ít điều hại, và do đó tương
    đối ít bị nhà nước kiểm soát. Nhưng trái lại, các chất liệu nguyên tử và các

    https://thuviensach.vn

    chất thải độc hại phải tuân thủ theo các quy định chặt chẽ ở tầm mức quốc
    gia và quốc tế vì việc kinh doanh chúng không theo đúng quy định rõ ràng
    sẽ gây nguy hiểm. 
    Một trong những vấn đề lớn nhất trong việc quản lý ngành công nghệ
    sinh học con người là quan điểm phổ biến cho rằng không thể nào dừng sự
    phát triển của công nghệ. Nếu như nước Mỹ hoặc bất kỳ quốc gia nào khác
    cố gắng cấm sinh sản vô tính hoặc công nghệ di truyền dòng mầm (germline genetic engineering) hoặc bất kỳ một quy trình công nghệ sinh học nào
    khác, những người muốn thực hiện những quy trình này chỉ việc di dân đến
    một quốc gia có thể chế luật pháp cho phép họ thực hiện. Toàn cầu hóa và
    tình trạng cạnh tranh quốc tế trong nghiên cứu y sinh học đảm bảo quốc gia
    nào rào giậu mình bằng cách đề ra các giới hạn về mặt y đức với các cộng
    đồng khoa học của họ hoặc với công nghệ sinh học sẽ bị trừng phạt.
    Ý tưởng cho rằng không thể nào dừng hoặc kiểm soát tiến bộ công nghệ
    là một ý tưởng sai lầm, các lý do lập luận cho nhận định này sẽ được đưa ra
    một cách đầy đủ hơn trong Chương 10 của quyển sách. Thật vậy, chúng ta
    kiểm soát được mọi thể loại công nghệ và nhiều thể loại nghiên cứu: con
    người không được tự do thực nghiệm để phát triển các vũ khí sinh học mới
    cũng như không được tự do thực nghiệm trên bất kỳ người nào mà không
    có sự đồng ý của người ấy. Việc có một số cá nhân hoặc tổ chức vi phạm
    các quy định này, hoặc có các quốc gia hầu như không có hoặc buông lỏng
    các quy định này, không biện minh cho việc không đặt ra các quy định.
    Cũng như việc có kẻ cắp và kẻ giết người không có nghĩa là luật pháp cho
    phép ăn cắp và giết người.
    Bằng mọi giá, chúng ta cần tránh thái độ chủ bại liên quan đến công
    nghệ, tránh cho rằng chúng ta không thể làm gì để dừng lại hoặc định hình
    các phát triển mà chúng ta không muốn có, tránh cho rằng chúng ta không
    cần cố tìm cách dừng chúng lại. Việc thiết lập một hệ thống quản lý cho
    phép các xã hội kiểm soát được ngành công nghệ sinh học sẽ không dễ thực
    hiện: nó đòi hỏi các nhà lập pháp trong các quốc gia trên toàn thế giới phải
    bước lên bục phát biểu và đưa ra các quyết định khó khăn liên quan đến

    https://thuviensach.vn

    những vấn đề khoa học phức tạp. Hình thức và thể loại các thể chế được
    thiết kế để thiết lập các quy định mới là một câu hỏi còn bỏ ngỏ; thiết kế
    chúng sao cho chúng chỉ hạn chế ở mức tối thiểu các phát triển tích cực
    trong khi vẫn cho chúng năng lực cưỡng chế hiệu quả là cả một thách thức.
    Và còn thách thức hơn nữa là việc sáng tạo ra các quy định chung ở tầm
    mức quốc tế, củng cố một sự đồng thuận giữa các quốc gia có nhữn...
     
    Gửi ý kiến