Hoa hậu Hoàn Vũ Việt Nam 2017 H'hen Niê đọc sách tranh Sóc con đi học
Chào mừng quý vị đến với website của
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Tương lai hậu nhân loại Hậu quả của cách mạng Công nghệ sinh học

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Trần Thị Hạnh
Ngày gửi: 16h:23' 12-07-2025
Dung lượng: 1.4 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Trần Thị Hạnh
Ngày gửi: 16h:23' 12-07-2025
Dung lượng: 1.4 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
https://thuviensach.vn
Mục lục
LỜI NÓI ĐẦU
PHẦN I - ĐƯỜNG ĐẾN TƯƠNG LAI
1 - CÂU CHUYỆN VỀ HAI ĐỊA NGỤC TRẦN GIAN
2- KHOA HỌC VỀ NÃO BỘ
3 - DƯỢC HỌC THẦN KINH VÀ VIỆC KIỂM SOÁT HÀNH VI
4 - TĂNG TUỔI THỌ
5 - CÔNG NGHỆ DI TRUYỀN
6 - TẠI SAO CHÚNG TA PHẢI LO LẮNG
PHẦN II: LÀ CON NGƯỜI
7 - NHÂN QUYỀN
8 - BẢN CHẤT TỰ NHIÊN CỦA CON NGƯỜI
9 - NHÂN PHẨM
PHẦN III: PHẢI LÀM GÌ
10 - DÙNG CHÍNH TRỊ KIỂM SOÁT CÔNG NGHỆ SINH HỌC
11 - HIỆN NAY CÔNG NGHỆ SINH HỌC ĐƯỢC KIỂM SOÁT RA SAO
12 - CÁC CHÍNH SÁCH TRONG TƯƠNG LAI
GHI CHÚ
https://thuviensach.vn
Thế là đủ rồi: đã đến lúc chính trị sẽ có một ý nghĩa khác.
Friedrich Nietzsche, The Will to Power, Phần 960
https://thuviensach.vn
LỜI NÓI ĐẦU
Đối với một người mà những năm gần đây chỉ chuyên tâm đến các vấn
đề văn hóa và kinh tế thì viết một quyển sách về công nghệ sinh học xem ra
quả thật là một bước nhảy vọt, nhưng thực ra việc này không điên như
người ta nghĩ.
Khoảng đầu năm 1999, Owen Harries, biên tập viên tờ The National
Interest, mời tôi viết một bài nhìn lại mười năm sau bài viết “Sự kết thúc
của lịch sử?” do tôi viết và được ông cho đăng vào mùa hè 1989. Trong bài
báo này, tôi đã lý luận là Hegel đã đúng khi ông cho rằng lịch sử nhân loại
đã kết thúc vào năm 1806, bởi vì không thấy có bước tiến chủ yếu nào
trong chính trị sau những nguyên tắc được Cách mạng Pháp đề ra và được
củng cố bởi chiến thắng của Napoleon trong Trận Jena cùng năm đó. Sự tan
rã của Liên bang Xô viết vào năm 1989 báo hiệu một sự hội tụ rộng lớn
hơn hướng đến nền dân chủ tự do toàn cầu.
Trong quá trình suy ngẫm về những lời phê bình về cho bài báo ấy, tôi
thấy duy nhất có một lời phê bình tôi không thể phản biện được: đó là
không thể nào có sự kết thúc của lịch sử trừ phi khoa học kết thúc.
Như tôi đã mô tả cơ chế tiến triển của lịch sử thế giới trong quyển sách
tôi viết tiếp theo bài báo nói trên, The End of History and the Last Man (Sự
kết thúc của lịch sử và Con Người cuối cùng) sự phát triển của khoa học tự
nhiên và công nghệ hiện đại đã nổi lên thành một trong những động lực
chính yếu cho cơ chế này. Phần lớn công nghệ ở cuối thế kỷ 20, như cái gọi
là cuộc Cách mạng Thông tin, đã tạo thuận lợi cho việc mở rộng nền dân
chủ tự do. Nhưng chúng ta chưa hề đến gần sự kết thúc của khoa học, và
thật ra, chúng ta dường như đang đứng giữa thời kỳ cực kỳ tiến bộ của các
ngành khoa học về đời sống.
Trong mọi sự kiện, tôi luôn nghĩ đến tác động của sinh học hiện đại lên
hiểu biết của chúng ta về chính trị vào lúc nào đó. Suy nghĩ này đã được
https://thuviensach.vn
nhen nhóm từ một nhóm nghiên cứu do tôi chỉ đạo trong nhiều năm nay về
tác động của những ngành khoa học mới đối với nền chính trị quốc tế. Một
số những suy nghĩ ban đầu của tôi về vấn đề này đã được phản ánh trong
quyển The Great Disruption (Sự gẫy đổ lớn lao), cuốn sách viết về vấn đề
bản chất con người và những chuẩn mực, và tầm hiểu biết của chúng ta về
vấn đề này đã được định hình như thế nào bởi thông tin thực nghiệm từ
những lĩnh vực nghiên cứu hành vi con người, sinh học tiến hóa, và khoa
học thần kinh về nhận thức. Nhưng lời mời tôi viết bài báo nhìn lại “sự kết
thúc của lịch sử” đã tạo cơ hội khiến tôi bắt đầu suy nghĩ về tương lai theo
một cách có hệ thống hơn, dẫn đến việc ra đời bài báo được đăng trên tờ
The National Interest vào năm 1999 với tựa đề: “Second Thoughts: The
Last Man in a Bottle” (“Nghĩ lại: Người Cuối cùng trong chai”). Và tác
phẩm các bạn đang đọc là một sự bàn luận mở rộng những điều đã được đề
cập lần đầu tiên trong bài báo vừa nói.
Những cuộc tấn công khủng bố nước Mỹ vào ngày 11 tháng 9 năm 2001
một lần nữa đã làm dấy lên những nghi ngờ về giả thuyết kết-thúc- củalịch-sử, lần này sự nghi ngờ dựa trên nền tảng là chúng ta đang chứng kiến
một sự “đụng độ của các nền văn minh” (nói theo nguyên văn câu của
Samuel P. Huntington) giữa thế giới phương Tây và thế giới Hồi giáo. Tôi
không tin là những biến cố trong ngày nói trên lại có ý nghĩa như vậy, tôi
tin là việc thuyết cấp tiến Hồi giáo thúc đẩy những cuộc tấn công này chỉ là
một phản ứng tự vệ tuyệt vọng và đến một lúc nào đó phản ứng ấy sẽ bị
trấn áp bởi làn sóng trải rộng hơn của sự hiện đại hóa. Tuy nhiên, những
biến cố này đã chỉ ra một thực tế rằng bản thân khoa học và công nghệ,
nguồn gốc của thế giới hiện đại, là những điểm yếu then chốt của nền văn
minh của chúng ta. Máy bay, tòa nhà chọc trời và những phòng thí nghiệm
sinh học – tất cả những biểu tượng của tính hiện đại – đều được biến thành
vũ khí trong một cơn bộc phát ác ý. Khối lượng ác ý hiện tại không liên
quan đến vũ khí sinh học, mà liên quan đến sự xuất hiện của chủ nghĩa
khủng bố sinh học biến người nghèo thành những mối đe dọa sống, được
https://thuviensach.vn
vạch ra trong quyển sách này, đòi hỏi kiểm soát chính trị rộng hơn nữa đối
với việc sử dụng khoa học và công nghệ.
Không cần phải nói, các độc giả cũng biết là đã có nhiều người giúp tôi
trong đề án nghiên cứu dẫn đến việc viết ra tác phẩm này, và tôi muốn nói
lời cám ơn họ. Đó là David Armor, Larry Arnhart, Scott Barrett, Peter
Berkowitz, Mary Cannon, Steve Clemons, Eric Cohen, Mark Cordover,
Richard Doerflinger, Bill Drake, Terry Eastland, Robin Fox, Hillel Fradkin,
Andrew Franklin, Franco Furger, Jonathan Galassi, Tony Gilland, Richard
Hassing, Richard Hayes, George Holmgren, Leon Kass, Bill Kristol, Jay
Lefkowitz, Mark Lilla, Michael Lind, Michael McGuire, David Prentice,
Gary Schmitt, Abram Shulsky, Gregory Stock, Richard Velkley, Caroline
Wagner, Marc Wheat, Edward
O. Wilson, Adam Wolfson, và Robert Wright. Tôi rất cám ơn đại diện
xuất bản của tôi – Esther Newberg, và tất cả mọi người ở International
Creative Management đã giúp tôi trong những năm tháng qua. Cám ơn
những phụ tá nghiên cứu của tôi – Mike Curtis, Ben Allen, Christine
Pommerening, Sanjay Marwah, và Brian Grow – về sự đóng góp vô cùng
quý báu của họ. Tôi cũng cám ơn Bradley Foundation đã cung cấp sự hỗ
trợ qua các học bổng góp phần vào đề án nghiên cứu này. Cám ơn Cynthia
Paddock, trợ lý toàn diện của tôi, người đã đóng góp vào công đoạn cuối
cùng của bản thảo này. Và, như thường lệ, tôi luôn cám ơn Laura – vợ tôi –
nhà phê bình có tư duy sâu sắc về quyển sách và về những vấn đề mà cô ấy
có những quan điểm thật vững chắc.
https://thuviensach.vn
PHẦN I - ĐƯỜNG ĐẾN TƯƠNG LAI
1 - CÂU CHUYỆN VỀ HAI ĐỊA NGỤC TRẦN GIAN
Mối đe dọa đối với loài người không bắt đầu từ những cỗ máy và
linh kiện công nghệ có tiềm năng gây chết người. Mối đe dọa thật
sự lúc nào cũng tác động đến con người ở điều cốt lõi. Quyền lực
của sự đóng khung tư tưởng (Gestell) đe dọa con người bằng cái
khả năng làm cho con người không thể tiến đến khám phá độc
đáo hơn và từ đó trải nghiệm sự thôi thúc của một chân lý quan
trọng hơn.
Martin Heidegger, The Question Concerning Technology
Tôi được sinh ra vào năm 1952, ngay đúng giữa thời kỳ bùng nổ dân số
tại Mỹ. Đối với những ai đã từng lớn lên theo cách tôi đã lớn lên trong
những thập niên giữa thế kỷ 20, tương lai và những viễn cảnh đáng sợ của
nó đã được định nghĩa qua hai quyển sách, một của George Orwell – 1984
(xuất bản lần đầu năm 1949) và một của Aldous Huxley – Brave New
World (xuất bản năm 1932).
Cả hai quyển sách này đều đã có tầm nhìn tiên tri rất xa so với tầm nhận
thức của bất kỳ ai sống vào thời kỳ sách ra đời, bởi vì cả hai đã tập trung
vào hai ngành công nghệ khác nhau thật sự đã xuất hiện và định hình thế
giới trong hai thế hệ kế tiếp. Quyển 1984 nói về cái mà ngày nay chúng ta
gọi là công nghệ thông tin: tâm điểm sự thành công của đế chế chuyên chế,
trải rộng mênh mông ở xứ Oceania được tạo dựng bởi một cỗ máy gọi là
màn hình (telescreen) – một màn hình phẳng có kích thước bằng một bức
tường, cùng lúc phát và nhận hình ảnh, từ trong nhà một người dân thường
đến đại bản doanh của một Big Brother. Màn hình là công cụ cho phép
trung ương tập quyền hóa cuộc sống xã hội dưới quyền kiểm soát của Bộ
Sự thật (Ministry of Truth) và Bộ Tình yêu thương (Ministry of Love), bởi
https://thuviensach.vn
vì nó cho phép nhà nước hủy bỏ mọi đời sống riêng tư cá nhân bằng cách
dùng một mạng lưới khổng lồ được tạo bởi các dây dẫn để kiểm soát mọi
lời nói và hành động của cá nhân.
Quyển Brave New World, trái lại, nói về một cuộc cách mạng công nghệ
lớn khác sắp xảy ra – đó là công nghệ sinh học. Bokanovskification – tức
việc thụ thai con người trong ống nghiệm chứ không phải trong tử cung –
như chúng ta nói ngày nay; linh dược cho con người hạnh phúc tức thì;
Feelies – kỹ thuật dùng điện cực kích thích cảm giác; và chuyển đổi hành vi
qua việc liên tục nhắc đi nhắc lại đánh vào tiềm thức và – khi các kỹ thuật
trên không thành công – đưa vào cơ thể những kích thích tố nhân tạo; tất cả
những viễn cảnh khoa học giả tưởng do quyển sách đem lại đã tạo ra một
cảm giác ghê rợn đặc biệt cho người đọc.
Với khoảng thời gian dài bằng nửa thế kỷ phân cách chúng ta với lần
xuất bản đầu tiên của hai quyển sách nói trên, chúng ta có thể thấy là trong
khi các dự báo công nghệ được mô tả trong hai quyển sách này đã khiến
chúng ta kinh ngạc vì ngày nay chúng đã trở thành hiện thực, thì các dự báo
chính trị được đề cập trong quyển sách đầu – 1984 – lại hoàn toàn sai. Năm
1984 hiện thực đã đến và rồi đã đi, với việc Mỹ vẫn bị mắc kẹt trong cuộc
Chiến tranh lạnh với Liên bang Xô viết. Năm 1984 hiện thực đã thấy mô
hình đầu tiên của máy tính cá nhân do hãng IBM giới thiệu và sự khởi đầu
của cái sẽ trở thành cuộc cách mạng máy tính cá nhân. Như Peter Huber đã
lý luận, máy tính cá nhân, nối mạng Internet, đã thật sự hiện thực hóa màn
hình2 của Orwell. Nhưng, thay vì trở thành một công cụ trung ương tập
quyền và độc tài chuyên quyền, nó đã dẫn đến một hướng trái ngược hẳn:
dân chủ hóa con đường tiếp cận thông tin và phi tập quyền chính trị. Thay
vì có một Big Brother theo dõi từng người một, mọi người đều có thể sử
dụng máy vi tính và mạng Internet để theo dõi Big Brother, tức nhà nước
của mọi quốc gia đều phải hướng đến việc phổ biến nhiều thông tin hơn về
các hoạt động của mình.
Lời tiên tri mang tính chính trị về một địa ngục trần gian khác được đề ra
trong quyển Brave New World vẫn đang còn trong giai đoạn đợi chờ để trở
https://thuviensach.vn
thành hiện thực. Rất nhiều công nghệ đã được Huxley dự kiến trong quyển
sách này, thí dụ như kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm, mang thai hộ,
thuốc tác động tâm thần, và công nghệ di truyền để chế tạo ra trẻ em, hiện
nay hoặc đã có hoặc đang trong giai đoạn hướng tới. Tuy nhiên, cuộc cách
mạng này vẫn còn đang trong giai đoạn khởi đầu; những công bố dồn dập
về những đột phá và thành tựu trong ngành công nghệ y-sinh học, thí dụ
như việc hoàn tất Đề án Bản đồ gene người (Human Genome Project) vào
năm 2000, là tín hiệu báo trước sẽ còn nhiều thay đổi quan trọng hơn nữa.
Trong số những cơn ác mộng do hai quyển sách này gợi ra, những cơn ác
mộng của quyển Brave New World đã tạo ấn tượng mạnh cho tôi vì chúng
tinh vi và mang tính thách thức hơn. Ta dễ dàng thấy điều sai lầm trong thế
giới được mô tả trong quyển 1984: nhân vật đối lập – Winston Smith – kẻ
thù ghét loài chuột cống hơn bất kỳ thứ gì khác, do đó nhân vật Big Brother
đã thiết kế ra một cái lồng trong đó các con chuột cống có thể cắn nát mặt
của Smith khiến anh ta hãi sợ đến mức chấp nhận phản bội người yêu của
mình. Đây là thế giới của chế độ độc tài kinh điển, có được quyền lực nhờ
vào kỹ thuật công nghệ, tuy nhiên, thế giới này không khác biệt là bao so
với những thảm kịch chúng ta đã từng thấy và biết đến trong lịch sử nhân
loại.
Trái lại, trong thế giới mà Brave New World mô tả, cái ác không hiển
nhiên như trong quyển sách kể trên vì không có nhân vật nào bị tổn hại;
thật vậy, đây là một thế giới mà ai cũng có được điều mình muốn có. Như
một nhân vật đã ghi nhận: “Những Kiểm soát viên đã nhận thức rằng sự ép
buộc chẳng có gì hay cả,” và rằng con người nên bị lôi cuốn hơn là bị ép
buộc sống trong một xã hội trật tự. Trong thế giới này, bệnh tật và mâu
thuẫn xã hội đã bị triệt phá, không có tâm trạng trầm cảm, điên cuồng, cô
đơn, hoặc rối loạn cảm xúc; tình dục luôn ở tình trạng tốt và sẵn sàng. Còn
có cả sự hỗ trợ của nhà nước để đảm bảo cho khoảng thời gian giữa sự xuất
hiện của một ham muốn và sự thỏa mãn ham muốn được rút ngắn tới mức
tối đa. Không còn nhân vật nào coi tôn giáo là điều nghiêm túc, không còn
ai sống hướng nội và cũng không có sự khao khát nào không thể thỏa mãn
https://thuviensach.vn
được, gia đình sinh học bị xóa bỏ, không còn ai đọc Shakespeare. Và cũng
chẳng có nhân vật nào tỏ ra tiếc nuối các điều bị xóa bỏ (ngoại trừ nhân vật
đối lập – John Man Di) bởi vì họ sống vui khỏe.
Từ khi quyển sách này được xuất bản, hình như đã có hàng triệu bài luận
văn của học sinh trung học được viết để trả lời câu hỏi: “Có điều gì sai trái
trong thế giới được mô tả trong quyển sách này?” Câu trả lời (trong các bài
luận văn được điểm A) thường như sau: những nhân vật trong Brave New
World có thể sống vui khỏe, nhưng họ đã không còn là con người. Họ
không còn tranh đấu, khao khát, thương yêu, cảm nhận đau khổ, họ không
có những chọn lựa khó khăn về mặt đạo đức, có gia đình, họ cũng không
làm bất kỳ điều gì mà chúng ta
– theo truyền thống – vẫn gắn liền với việc làm người. Họ không còn
những nét đặc trưng tạo dựng nhân phẩm cho chúng ta. Thật vậy, không
còn gì liên quan đến loài người, bởi vì họ được sản sinh bởi các Kiểm soát
viên để trở thành các giai cấp khác nhau như Alpha, Beta, Epsilon, và
Gamma, xa rời nhau y như con người xa rời con thú. Thế giới của họ trở
thành phi tự nhiên theo nghĩa sâu sắc nhất mà ta có thể nghĩ ra, bởi vì bản
chất con người đã bị thay đổi. Nói theo lời của nhà đạo đức sinh học, Leon
Kass, “Khác với con người bị bệnh tật hoặc sự nô lệ làm giảm nhân phẩm,
con người bị mất tính nhân bản theo kiểu Brave New World không khốn
khổ, không biết là mình đã bị mất tính nhân bản, và điều tệ hại hơn nữa, họ
cũng chẳng thèm quan tâm nếu như họ biết điều ấy. Thật vậy, họ là những
người nô lệ sung sướng trong niềm hạnh phúc được làm nô lệ.”3
Tuy nhiên, dù cái kiểu trả lời như thế này thường cũng đã đủ tầm mức để
tạo sự hài lòng cho các thầy cô dạy Anh văn tại một trường trung học kinh
điển, nó vẫn chưa đủ đào sâu nhận thức (theo như Kass tiếp tục nhận định).
Bởi vì ta có thể hỏi tiếp, Điều gì khiến việc làm người là điều quan trọng
theo phương thức truyền thống được định nghĩa bởi Huxley? Dù sao, cái
con người ngày nay cũng đã là sản phẩm của một tiến trình tiến hóa đã tiếp
diễn trong hàng triệu năm, một quy trình có cơ may sẽ tiếp tục tốt đẹp trong
tương lai. Không có một tính cách con người cố định, ngoại trừ một khả
https://thuviensach.vn
năng chung là khả năng chọn con người mình muốn trở thành, là khả năng
sửa đổi mình cho phù hợp với điều mình mong muốn. Vậy, ai là người sẽ
nói được với chúng ta là làm người và có nhân phẩm có nghĩa là gắn chặt
với một hệ thống các phản ứng cảm xúc, vốn là những sản phẩm phụ vô
tình được sản sinh trong lịch sử tiến hóa của chúng ta? Không có những thứ
gọi là gia đình sinh học, là bản chất con người hoặc một con người “bình
thường”, và ngay cả khi cứ cho là chúng có đi nữa, tại sao phải coi đó là
kim chỉ nam cho chuyện đúng sai? Thật ra, Huxley muốn nói với chúng ta
là chúng ta nên tiếp tục cảm nhận nỗi đau, trầm cảm hoặc cô đơn, hoặc khổ
đau vì một căn bệnh nào đó, tất cả là vì đó là những gì con người đã làm
trong phần lớn thời gian loài người hiện hữu. Thay vì lấy các đặc tính này
làm nền tảng cho “nhân phẩm”, tại sao chúng ta không đơn giản chấp nhận
số mạng của chúng ta là những sinh vật tự chỉnh sửa?
Huxley gợi ý tôn giáo là một nguồn định nghĩa cho ý nghĩa của việc làm
người. Trong Brave New World, tôn giáo đã bị xóa bỏ và Ki-tô giáo trở
thành một ký ức xa vời. Truyền thống Ki-tô giáo duy trì ý niệm con người
được sinh ra theo hình ảnh Chúa Trời, đó là nguồn gốc của nhân phẩm.
Như vậy, việc sử dụng công nghệ sinh học để dấn thân vào cái mà một nhà
văn Ki-tô giáo khác – C.S. Lewis – gọi là “sự xóa bỏ con người” sẽ mạo
phạm ý Chúa Trời. Tuy nhiên, tôi không nghĩ là khi ta đọc kỹ Huxley hoặc
Lewis, ta có thể đi đến kết luận là hai tác giả này tin rằng tôn giáo là nền
tảng duy nhất giúp con người có thể hiểu rõ được ý nghĩa thế nào là con
người. Cả hai nhà văn đều gợi ý rằng bản chất tự thân, và đặc biệt là bản
chất con người, đóng một vai trò đặc biệt trong việc định nghĩa cho chúng
ta biết phải trái đúng sai, điều gì là công bằng và điều gì là không công
bằng, điều gì là quan trọng và điều gì là không quan trọng. Do đó phán xét
cuối cùng về “điều gì sai trái” trong Brave New World của Huxley sẽ được
biện minh hoặc bị phủ nhận tùy theo quan điểm của chúng ta về tầm quan
trọng của bản chất con người (nhân bản) khi bản chất này được coi là
nguồn gốc của các giá trị.
https://thuviensach.vn
Mục tiêu của quyển sách này là biện luận rằng Huxley đúng, rằng mối đe
dọa quan trọng nhất do công nghệ hiện đại đặt ra là khả năng khiến bản
chất con người thay đổi và do đó, sẽ dẫn chúng ta đến thời kỳ “hậu nhân
loại” trong lịch sử loài người. Tôi sẽ lập luận rằng điều này là quan trọng,
bởi vì bản chất con người hiện hữu, là một khái niệm có ý nghĩa, và đã
cung cấp một sự ổn định liên tục cho trải nghiệm của chúng ta với tư cách
một con người. Bản chất này, cùng với tôn giáo, định nghĩa những giá trị cơ
bản nhất của chúng ta. Bản chất con người định hình và giới hạn các thể
loại có thể có của các thể chế chính trị, do đó một nền công nghệ có đủ
tiềm lực để có thể tái định hình cái chúng ta đang là sẽ có thể tạo những
hậu quả xấu cho nền dân chủ tự do và cho bản thân của bản chất chính trị.
Có thể, như trường hợp của 1984, rốt cuộc chúng ta sẽ thấy các hậu quả
do ngành công nghệ sinh học đem lại hoàn toàn không gây hại một cách
đáng ngạc nhiên, và cũng thấy rằng chúng ta đã lo lắng đến mất ngủ một
cách vô cớ. Có thể cuối cùng công nghệ này lại tỏ ra không có năng lực
nhiều như ta đang nghĩ bây giờ, hoặc có thể con người sẽ chừng mực và
cẩn trọng trong việc ứng dụng công nghệ này. Nhưng có một điều khiến tôi
không hoàn toàn tin tưởng một cách lạc quan như vậy, đó là ngành công
nghệ sinh học, trái với nhiều tiến bộ khoa học khác, ngành này hiển nhiên
pha trộn một cách tinh tế, trong cùng một gói, các điểm lợi và các điểm hại.
Ngay từ ban đầu, vũ khí nguyên tử và năng lượng nguyên tử được nhìn
nhận là nguy hiểm, và do đó là những mục tiêu được kiểm soát chặt chẽ
ngay từ thời điểm Kế hoạch Manhattan sản xuất quả bom nguyên tử đầu
tiên vào năm 1945. Các nhà quan sát, như Bill Joy, đã lo lắng về công nghệ
nano – coi đó là những cỗ máy có khả năng tự sao chép ở mức độ phân tử
để có thể sản sinh một cách không thể kiểm soát được và do đó có thể hủy
diệt những người sáng tạo ra chúng.4 Tuy nhiên, những mối đe dọa theo
kiểu này thật ra là những mối đe dọa dễ đối phó nhất bởi vì chúng quá hiển
nhiên. Nếu như bạn thấy mình dễ dàng có nguy cơ bị một cỗ máy do chính
bạn sáng chế giết chết, dĩ nhiên bạn sẽ nghĩ ra những giải pháp bảo vệ
https://thuviensach.vn
mình. Và như vậy, cho đến giờ chúng ta đã có thành tích kiểm soát một
cách hợp lý các máy công nghệ nano này.
Tương tự, có thể có những sản phẩm công nghệ sinh học cho thấy rõ
những hiểm họa chúng có thể gây ra cho loài người – thí dụ như những siêu
bọ, những virus mới, hoặc thực phẩm biến đổi gene gây ra những phản ứng
ngộ độc. Cũng giống như vũ khí nguyên tử hoặc công nghệ nano, theo một
cách nào đó, những sản phẩm này dễ dàng giải quyết nhất bởi vì một khi
chúng ta đã nhận thức được chúng có thể gây nguy hiểm, chúng ta sẽ thẳng
thừng coi chúng là mối đe dọa và có cách để trị chúng. Mặt khác, các mối
đe dọa điển hình bắt nguồn từ công nghệ sinh học là những mối đe dọa
được Huxley nắm bắt rất kỹ, và được tóm tắt qua tựa đề một bài báo của
nhà văn Tom Wolfe, “Xin lỗi, nhưng đành phải nói là Linh hồn của bạn vừa
mới chết đi.”5 Trong nhiều trường hợp, công nghệ y khoa đã đưa ra cho
chúng ta những cuộc mặc cả với quỷ dữ: giúp kéo dài thời gian sống nhưng
trong tình trạng khả năng trí tuệ bị giảm sút; không bị trầm cảm nhưng mất
tư duy sáng tạo hoặc mất tinh thần; những liệu pháp khiến chúng ta không
còn sáng suốt nhận biết được ranh giới giữa những điều chúng ta làm được
do chính khả năng chúng ta và những điều chúng ta làm được nhờ vào các
liều hóa chất khác nhau tác dụng lên não chúng ta.
Chúng ta thử xem ba kịch bản sau, cả ba đều có khả năng xảy ra trong
một hoặc hai thế hệ sắp tới rõ rệt.
Khả năng đầu tiên liên quan đến các dược phẩm mới. Từ những kết quả
có được do tiến bộ trong ngành dược học thần kinh, các nhà tâm lý học đã
khám phá ra rằng tâm tính con người dễ nhào nặn hơn ta nghĩ. Các thuốc
tác động tâm thần, như Prozac và Ritalin, có thể ảnh hưởng lên tính cách
như cải thiện lòng tự hào và khả năng tập trung tinh thần, nhưng chúng
cũng có thể gây ra các phản ứng phụ và do đó chúng bị hạn chế chỉ định
dùng và chỉ được dùng khi có nhu cầu trị liệu rõ ràng. Tuy nhiên, trong
tương lai, khi kiến thức về bản đồ gene cho phép các công ty dược điều chế
dược phẩm của họ một cách thật đặc hiệu cho các thể loại gene khác nhau,
tương ứng với từng cá nhân bệnh nhân và nhờ đó sẽ giảm thiểu đến mức tối
https://thuviensach.vn
đa các tác dụng phụ. Những người ù lì có thể trở nên năng động hơn; những
người hướng nội sẽ hướng ngoại hơn; bạn có thể có tính cách này vào ngày
thứ tư và tính cách khác vào cuối tuần. Sẽ không còn lý do nào để bất kỳ ai
có quyền cảm thấy trầm cảm hoặc buồn phiền; ngay cả một người vui vẻ
một cách “bình thường” cũng sẽ khiến mình vui hơn mà không sợ bị nghiện
thuốc, bị khó chịu sau chầu nhậu, hoặc tổn thương dài lâu về não bộ.
Trong kịch bản thứ hai, tiến bộ trong ngành nghiên cứu về tế bào gốc cho
phép các nhà khoa học nghĩ đến việc tái sinh mọi thể loại mô trong cơ thể,
đến mức tuổi thọ có thể được đẩy lên đến trên 100 tuổi. Nếu như bạn cần
có một trái tim hoặc một lá gan mới, chỉ việc cấy nó trong lồng ngực một
con heo hoặc một con bò (ND chú thích: để rồi sau đó đem ghép nó vào
người bạn); não bộ bị tổn thương do bệnh Alzheimer hoặc tai biến có thể
được hồi phục. Vấn đề duy nhất là có nhiều mặt tinh tế và một số mặt
không-mấy-tinh tế trong tiến trình lão hóa con người khiến ngành công
nghệ sinh học chưa nghĩ ra cách giải quyết được hoàn toàn: thí dụ con
người có trí tuệ xơ cứng dần và trở nên bảo thủ về mặt tư duy theo với tuổi
già, và dù cho họ có cố gắng, họ không thể tiếp tục làm cho mình quyến rũ
trong mắt người phối ngẫu và ngược lại cũng không còn thấy người phối
ngẫu quyến rũ nữa, và họ khao khát có bạn tình ở độ tuổi trẻ trung còn sinh
nở được. Điều tệ nhất là họ không chịu tách ra khỏi cuộc sống, không
những của con cái họ, mà còn của các cháu chắt họ nữa. Mặt khác, sẽ có
quá ít người sinh con hoặc có bất kỳ liên hệ nào đến quy trình sinh nở
truyền thống, do đó việc sinh sản truyền thống chẳng còn mấy ý nghĩa.
Trong kịch bản thứ ba, các phôi thai khỏe mạnh được kiểm tra đều đặn
trước khi cấy để tối ưu hóa khả năng con người có con thuộc thể loại mình
muốn. Bạn có thể tăng khả năng đoán được nền tảng xã hội của một người
trẻ tuổi nào đó dựa vào dáng dấp và trí thông minh của người ấy; nếu như
có ai đó không đạt được chuẩn mực do xã hội đề ra, người ấy sẽ có khuynh
hướng đổ lỗi do cha mẹ mình đã chọn gene xấu thay vì nhận đó là lỗi của
chính mình. Vì mục đích nghiên cứu và để có thể sản xuất ra các sản phẩm
y khoa mới, gene của người đã được chuyển sang các loài vật và ngay cả
https://thuviensach.vn
các loài cây cỏ; và gene của loài thú đã được cấy thêm vào một số phôi thai
của con người để giúp con người gia tăng sức chịu đựng của cơ thể hoặc
sức đề kháng với bệnh tật. Các nhà khoa học không dám nghĩ đến việc sản
xuất ra một quái vật hoàn toàn huyền thoại – nửa người nửa khỉ – mặc dù
họ có khả năng làm việc đó; tuy nhiên những người trẻ tuổi bắt đầu cho
rằng những bạn cùng lớp yếu kém hơn họ thật sự không hoàn toàn là con
người về mặt gene. Bởi vì, thật sự, chính những người trẻ tuổi này không
có tính người.
Xin lỗi, nhưng đành phải nói linh hồn bạn vừa mới chết đi...
Về cuối đời mình, Thomas Jefferson đã viết, “Tầm trải rộng bao quát của
ánh sáng khoa học đã mở ra trước mắt mọi người một sự thật có thể sờ nắn
được này, đó là không phải đa số con người bị sinh ra với cái yên ngựa đeo
trên lưng họ, cũng như không phải một thiểu số con người được ưu tiên
sinh ra với đôi ủng có đinh thúc ngựa sẵn sàng cưỡi lên lưng của đa số kia
một cách hợp pháp, nhờ ơn Chúa Trời định.”6 Sự bình đẳng về mặt chính
trị này, đã được thiêng liêng hóa bởi bản Tuyên ngôn Độc lập, dựa trên thực
tế đã được chứng minh về sự bình đẳng tự nhiên có của con người. Chúng
ta khác nhau rất nhiều về mặt cá nhân cũng như văn hóa, nhưng chúng ta
cùng chia sẻ nhân tính cho phép mỗi con người đều có tiềm năng giao tiếp
và thiết lập một quan hệ có đạo đức với mọi con người khác trên hành tinh
này. Câu hỏi tận cùng nhất được công nghệ sinh học khơi gợi ra là: Cái gì
sẽ xảy đến cho quyền con người về mặt chính trị một khi chúng ta, thật sự,
có khả năng sinh sản những người phải đeo yên ngựa trên lưng và những
người có ủng và đinh thúc ngựa để cưỡi lên lưng những người kia.
MỘT GIẢI PHÁP ĐƠN GIẢN
Chúng ta phải làm gì để ứng phó với nền công nghệ sinh học mà trong
tương lai sẽ trộn lẫn các điểm lợi đầy tiềm năng với các điểm hại hoặc
mang tính thể chất và thấy rõ, hoặc mang tính tinh thần và khó thấy? Câu
trả lời thật hiển nhiên: Chúng ta nên sử dụng quyền lực pháp trị của nhà
nước để quản lý nó. Và nếu như việc quản lý này tỏ ra vượt ngoài quyền
https://thuviensach.vn
lực của bất kỳ một nhà nước đơn lẻ nào, thì nó cần được thực hiện ở tầm
mức quốc tế. Vào lúc này, chúng ta cần bắt đầu suy nghĩ cụ thể để tìm cách
phân biệt được việc sử dụng công nghệ sinh học đúng và sai, và củng cố
một cách hiệu quả các quy chế ở tầm mức quốc gia và quốc tế.
Tuy nhiên, câu trả lời hiển nhiên này lại không tỏ ra hiển nhiên đối với
nhiều người tham gia vào cuộc tranh luận hiện tại về ngành công nghệ sinh
học. Cuộc tranh luận vẫn còn đang đắm chìm ở tầm mức tương đối trừu
tượng liên quan đến khía cạnh đạo đức của các quy trình, thí dụ như sinh
sản vô tính hoặc nghiên cứu tế bào gốc, và phân thành hai trường phái:
trường phái mong muốn cho phép tiến hành mọi điều và trường phái mong
muốn cấm đoán mọi lĩnh vực nghiên cứu và thực hành. Một cuộc tranh
luận mở rộng dĩ nhiên quan trọng, nhưng các sự kiện đang chuyển biến quá
nhanh khiến chúng ta cần nhanh chóng có hướng dẫn cụ thể hơn về đường
hướng phát triển trong tương lai để ngành công nghệ này tiếp tục phục vụ
con người thay vì trở thành làm chủ con người. Bởi vì dường như chúng ta
không thể cho phép làm mọi chuyện nhưng cũng không thể cấm đoán
những nghiên cứu có tiềm năng, nên chúng ta cần tìm ra một điểm dung
hòa.
Tạo dựng các thể chế quản lý mới là một việc không thể coi nhẹ khi sự
thiếu hiệu quả vây quanh mọi nỗ lực liên quan đến quản lý. Trong ba thập
niên vừa qua, đã có một phong trào toàn cầu về bãi bỏ quản lý nhiều lĩnh
vực của mọi nền kinh tế quốc gia, từ ngành hàng không đến ngành bưu
chính viễn thông, và ngày càng mở rộng hơn để tiến đến giảm thiểu tầm
mức và lĩnh vực quản lý của nhà nước. Kết quả của việc này là nền kinh tế
toàn cầu trỗi dậy quá cả là một cỗ máy sản xuất sự giàu có và cải tiến công
nghệ hiệu quả.
Nhưng điều quan trọng là ta cần phải phân biệt được rằng điều thành
công trong một lĩnh vực kinh tế này không có nghĩa là nó sẽ thành công
trong một lĩnh vực kinh tế khác. Thí dụ ngành công nghệ thông tin đã sản
xuất ra nhiều điều lợi cho xã hội và tương đối ít điều hại, và do đó tương
đối ít bị nhà nước kiểm soát. Nhưng trái lại, các chất liệu nguyên tử và các
https://thuviensach.vn
chất thải độc hại phải tuân thủ theo các quy định chặt chẽ ở tầm mức quốc
gia và quốc tế vì việc kinh doanh chúng không theo đúng quy định rõ ràng
sẽ gây nguy hiểm.
Một trong những vấn đề lớn nhất trong việc quản lý ngành công nghệ
sinh học con người là quan điểm phổ biến cho rằng không thể nào dừng sự
phát triển của công nghệ. Nếu như nước Mỹ hoặc bất kỳ quốc gia nào khác
cố gắng cấm sinh sản vô tính hoặc công nghệ di truyền dòng mầm (germline genetic engineering) hoặc bất kỳ một quy trình công nghệ sinh học nào
khác, những người muốn thực hiện những quy trình này chỉ việc di dân đến
một quốc gia có thể chế luật pháp cho phép họ thực hiện. Toàn cầu hóa và
tình trạng cạnh tranh quốc tế trong nghiên cứu y sinh học đảm bảo quốc gia
nào rào giậu mình bằng cách đề ra các giới hạn về mặt y đức với các cộng
đồng khoa học của họ hoặc với công nghệ sinh học sẽ bị trừng phạt.
Ý tưởng cho rằng không thể nào dừng hoặc kiểm soát tiến bộ công nghệ
là một ý tưởng sai lầm, các lý do lập luận cho nhận định này sẽ được đưa ra
một cách đầy đủ hơn trong Chương 10 của quyển sách. Thật vậy, chúng ta
kiểm soát được mọi thể loại công nghệ và nhiều thể loại nghiên cứu: con
người không được tự do thực nghiệm để phát triển các vũ khí sinh học mới
cũng như không được tự do thực nghiệm trên bất kỳ người nào mà không
có sự đồng ý của người ấy. Việc có một số cá nhân hoặc tổ chức vi phạm
các quy định này, hoặc có các quốc gia hầu như không có hoặc buông lỏng
các quy định này, không biện minh cho việc không đặt ra các quy định.
Cũng như việc có kẻ cắp và kẻ giết người không có nghĩa là luật pháp cho
phép ăn cắp và giết người.
Bằng mọi giá, chúng ta cần tránh thái độ chủ bại liên quan đến công
nghệ, tránh cho rằng chúng ta không thể làm gì để dừng lại hoặc định hình
các phát triển mà chúng ta không muốn có, tránh cho rằng chúng ta không
cần cố tìm cách dừng chúng lại. Việc thiết lập một hệ thống quản lý cho
phép các xã hội kiểm soát được ngành công nghệ sinh học sẽ không dễ thực
hiện: nó đòi hỏi các nhà lập pháp trong các quốc gia trên toàn thế giới phải
bước lên bục phát biểu và đưa ra các quyết định khó khăn liên quan đến
https://thuviensach.vn
những vấn đề khoa học phức tạp. Hình thức và thể loại các thể chế được
thiết kế để thiết lập các quy định mới là một câu hỏi còn bỏ ngỏ; thiết kế
chúng sao cho chúng chỉ hạn chế ở mức tối thiểu các phát triển tích cực
trong khi vẫn cho chúng năng lực cưỡng chế hiệu quả là cả một thách thức.
Và còn thách thức hơn nữa là việc sáng tạo ra các quy định chung ở tầm
mức quốc tế, củng cố một sự đồng thuận giữa các quốc gia có nhữn...
Mục lục
LỜI NÓI ĐẦU
PHẦN I - ĐƯỜNG ĐẾN TƯƠNG LAI
1 - CÂU CHUYỆN VỀ HAI ĐỊA NGỤC TRẦN GIAN
2- KHOA HỌC VỀ NÃO BỘ
3 - DƯỢC HỌC THẦN KINH VÀ VIỆC KIỂM SOÁT HÀNH VI
4 - TĂNG TUỔI THỌ
5 - CÔNG NGHỆ DI TRUYỀN
6 - TẠI SAO CHÚNG TA PHẢI LO LẮNG
PHẦN II: LÀ CON NGƯỜI
7 - NHÂN QUYỀN
8 - BẢN CHẤT TỰ NHIÊN CỦA CON NGƯỜI
9 - NHÂN PHẨM
PHẦN III: PHẢI LÀM GÌ
10 - DÙNG CHÍNH TRỊ KIỂM SOÁT CÔNG NGHỆ SINH HỌC
11 - HIỆN NAY CÔNG NGHỆ SINH HỌC ĐƯỢC KIỂM SOÁT RA SAO
12 - CÁC CHÍNH SÁCH TRONG TƯƠNG LAI
GHI CHÚ
https://thuviensach.vn
Thế là đủ rồi: đã đến lúc chính trị sẽ có một ý nghĩa khác.
Friedrich Nietzsche, The Will to Power, Phần 960
https://thuviensach.vn
LỜI NÓI ĐẦU
Đối với một người mà những năm gần đây chỉ chuyên tâm đến các vấn
đề văn hóa và kinh tế thì viết một quyển sách về công nghệ sinh học xem ra
quả thật là một bước nhảy vọt, nhưng thực ra việc này không điên như
người ta nghĩ.
Khoảng đầu năm 1999, Owen Harries, biên tập viên tờ The National
Interest, mời tôi viết một bài nhìn lại mười năm sau bài viết “Sự kết thúc
của lịch sử?” do tôi viết và được ông cho đăng vào mùa hè 1989. Trong bài
báo này, tôi đã lý luận là Hegel đã đúng khi ông cho rằng lịch sử nhân loại
đã kết thúc vào năm 1806, bởi vì không thấy có bước tiến chủ yếu nào
trong chính trị sau những nguyên tắc được Cách mạng Pháp đề ra và được
củng cố bởi chiến thắng của Napoleon trong Trận Jena cùng năm đó. Sự tan
rã của Liên bang Xô viết vào năm 1989 báo hiệu một sự hội tụ rộng lớn
hơn hướng đến nền dân chủ tự do toàn cầu.
Trong quá trình suy ngẫm về những lời phê bình về cho bài báo ấy, tôi
thấy duy nhất có một lời phê bình tôi không thể phản biện được: đó là
không thể nào có sự kết thúc của lịch sử trừ phi khoa học kết thúc.
Như tôi đã mô tả cơ chế tiến triển của lịch sử thế giới trong quyển sách
tôi viết tiếp theo bài báo nói trên, The End of History and the Last Man (Sự
kết thúc của lịch sử và Con Người cuối cùng) sự phát triển của khoa học tự
nhiên và công nghệ hiện đại đã nổi lên thành một trong những động lực
chính yếu cho cơ chế này. Phần lớn công nghệ ở cuối thế kỷ 20, như cái gọi
là cuộc Cách mạng Thông tin, đã tạo thuận lợi cho việc mở rộng nền dân
chủ tự do. Nhưng chúng ta chưa hề đến gần sự kết thúc của khoa học, và
thật ra, chúng ta dường như đang đứng giữa thời kỳ cực kỳ tiến bộ của các
ngành khoa học về đời sống.
Trong mọi sự kiện, tôi luôn nghĩ đến tác động của sinh học hiện đại lên
hiểu biết của chúng ta về chính trị vào lúc nào đó. Suy nghĩ này đã được
https://thuviensach.vn
nhen nhóm từ một nhóm nghiên cứu do tôi chỉ đạo trong nhiều năm nay về
tác động của những ngành khoa học mới đối với nền chính trị quốc tế. Một
số những suy nghĩ ban đầu của tôi về vấn đề này đã được phản ánh trong
quyển The Great Disruption (Sự gẫy đổ lớn lao), cuốn sách viết về vấn đề
bản chất con người và những chuẩn mực, và tầm hiểu biết của chúng ta về
vấn đề này đã được định hình như thế nào bởi thông tin thực nghiệm từ
những lĩnh vực nghiên cứu hành vi con người, sinh học tiến hóa, và khoa
học thần kinh về nhận thức. Nhưng lời mời tôi viết bài báo nhìn lại “sự kết
thúc của lịch sử” đã tạo cơ hội khiến tôi bắt đầu suy nghĩ về tương lai theo
một cách có hệ thống hơn, dẫn đến việc ra đời bài báo được đăng trên tờ
The National Interest vào năm 1999 với tựa đề: “Second Thoughts: The
Last Man in a Bottle” (“Nghĩ lại: Người Cuối cùng trong chai”). Và tác
phẩm các bạn đang đọc là một sự bàn luận mở rộng những điều đã được đề
cập lần đầu tiên trong bài báo vừa nói.
Những cuộc tấn công khủng bố nước Mỹ vào ngày 11 tháng 9 năm 2001
một lần nữa đã làm dấy lên những nghi ngờ về giả thuyết kết-thúc- củalịch-sử, lần này sự nghi ngờ dựa trên nền tảng là chúng ta đang chứng kiến
một sự “đụng độ của các nền văn minh” (nói theo nguyên văn câu của
Samuel P. Huntington) giữa thế giới phương Tây và thế giới Hồi giáo. Tôi
không tin là những biến cố trong ngày nói trên lại có ý nghĩa như vậy, tôi
tin là việc thuyết cấp tiến Hồi giáo thúc đẩy những cuộc tấn công này chỉ là
một phản ứng tự vệ tuyệt vọng và đến một lúc nào đó phản ứng ấy sẽ bị
trấn áp bởi làn sóng trải rộng hơn của sự hiện đại hóa. Tuy nhiên, những
biến cố này đã chỉ ra một thực tế rằng bản thân khoa học và công nghệ,
nguồn gốc của thế giới hiện đại, là những điểm yếu then chốt của nền văn
minh của chúng ta. Máy bay, tòa nhà chọc trời và những phòng thí nghiệm
sinh học – tất cả những biểu tượng của tính hiện đại – đều được biến thành
vũ khí trong một cơn bộc phát ác ý. Khối lượng ác ý hiện tại không liên
quan đến vũ khí sinh học, mà liên quan đến sự xuất hiện của chủ nghĩa
khủng bố sinh học biến người nghèo thành những mối đe dọa sống, được
https://thuviensach.vn
vạch ra trong quyển sách này, đòi hỏi kiểm soát chính trị rộng hơn nữa đối
với việc sử dụng khoa học và công nghệ.
Không cần phải nói, các độc giả cũng biết là đã có nhiều người giúp tôi
trong đề án nghiên cứu dẫn đến việc viết ra tác phẩm này, và tôi muốn nói
lời cám ơn họ. Đó là David Armor, Larry Arnhart, Scott Barrett, Peter
Berkowitz, Mary Cannon, Steve Clemons, Eric Cohen, Mark Cordover,
Richard Doerflinger, Bill Drake, Terry Eastland, Robin Fox, Hillel Fradkin,
Andrew Franklin, Franco Furger, Jonathan Galassi, Tony Gilland, Richard
Hassing, Richard Hayes, George Holmgren, Leon Kass, Bill Kristol, Jay
Lefkowitz, Mark Lilla, Michael Lind, Michael McGuire, David Prentice,
Gary Schmitt, Abram Shulsky, Gregory Stock, Richard Velkley, Caroline
Wagner, Marc Wheat, Edward
O. Wilson, Adam Wolfson, và Robert Wright. Tôi rất cám ơn đại diện
xuất bản của tôi – Esther Newberg, và tất cả mọi người ở International
Creative Management đã giúp tôi trong những năm tháng qua. Cám ơn
những phụ tá nghiên cứu của tôi – Mike Curtis, Ben Allen, Christine
Pommerening, Sanjay Marwah, và Brian Grow – về sự đóng góp vô cùng
quý báu của họ. Tôi cũng cám ơn Bradley Foundation đã cung cấp sự hỗ
trợ qua các học bổng góp phần vào đề án nghiên cứu này. Cám ơn Cynthia
Paddock, trợ lý toàn diện của tôi, người đã đóng góp vào công đoạn cuối
cùng của bản thảo này. Và, như thường lệ, tôi luôn cám ơn Laura – vợ tôi –
nhà phê bình có tư duy sâu sắc về quyển sách và về những vấn đề mà cô ấy
có những quan điểm thật vững chắc.
https://thuviensach.vn
PHẦN I - ĐƯỜNG ĐẾN TƯƠNG LAI
1 - CÂU CHUYỆN VỀ HAI ĐỊA NGỤC TRẦN GIAN
Mối đe dọa đối với loài người không bắt đầu từ những cỗ máy và
linh kiện công nghệ có tiềm năng gây chết người. Mối đe dọa thật
sự lúc nào cũng tác động đến con người ở điều cốt lõi. Quyền lực
của sự đóng khung tư tưởng (Gestell) đe dọa con người bằng cái
khả năng làm cho con người không thể tiến đến khám phá độc
đáo hơn và từ đó trải nghiệm sự thôi thúc của một chân lý quan
trọng hơn.
Martin Heidegger, The Question Concerning Technology
Tôi được sinh ra vào năm 1952, ngay đúng giữa thời kỳ bùng nổ dân số
tại Mỹ. Đối với những ai đã từng lớn lên theo cách tôi đã lớn lên trong
những thập niên giữa thế kỷ 20, tương lai và những viễn cảnh đáng sợ của
nó đã được định nghĩa qua hai quyển sách, một của George Orwell – 1984
(xuất bản lần đầu năm 1949) và một của Aldous Huxley – Brave New
World (xuất bản năm 1932).
Cả hai quyển sách này đều đã có tầm nhìn tiên tri rất xa so với tầm nhận
thức của bất kỳ ai sống vào thời kỳ sách ra đời, bởi vì cả hai đã tập trung
vào hai ngành công nghệ khác nhau thật sự đã xuất hiện và định hình thế
giới trong hai thế hệ kế tiếp. Quyển 1984 nói về cái mà ngày nay chúng ta
gọi là công nghệ thông tin: tâm điểm sự thành công của đế chế chuyên chế,
trải rộng mênh mông ở xứ Oceania được tạo dựng bởi một cỗ máy gọi là
màn hình (telescreen) – một màn hình phẳng có kích thước bằng một bức
tường, cùng lúc phát và nhận hình ảnh, từ trong nhà một người dân thường
đến đại bản doanh của một Big Brother. Màn hình là công cụ cho phép
trung ương tập quyền hóa cuộc sống xã hội dưới quyền kiểm soát của Bộ
Sự thật (Ministry of Truth) và Bộ Tình yêu thương (Ministry of Love), bởi
https://thuviensach.vn
vì nó cho phép nhà nước hủy bỏ mọi đời sống riêng tư cá nhân bằng cách
dùng một mạng lưới khổng lồ được tạo bởi các dây dẫn để kiểm soát mọi
lời nói và hành động của cá nhân.
Quyển Brave New World, trái lại, nói về một cuộc cách mạng công nghệ
lớn khác sắp xảy ra – đó là công nghệ sinh học. Bokanovskification – tức
việc thụ thai con người trong ống nghiệm chứ không phải trong tử cung –
như chúng ta nói ngày nay; linh dược cho con người hạnh phúc tức thì;
Feelies – kỹ thuật dùng điện cực kích thích cảm giác; và chuyển đổi hành vi
qua việc liên tục nhắc đi nhắc lại đánh vào tiềm thức và – khi các kỹ thuật
trên không thành công – đưa vào cơ thể những kích thích tố nhân tạo; tất cả
những viễn cảnh khoa học giả tưởng do quyển sách đem lại đã tạo ra một
cảm giác ghê rợn đặc biệt cho người đọc.
Với khoảng thời gian dài bằng nửa thế kỷ phân cách chúng ta với lần
xuất bản đầu tiên của hai quyển sách nói trên, chúng ta có thể thấy là trong
khi các dự báo công nghệ được mô tả trong hai quyển sách này đã khiến
chúng ta kinh ngạc vì ngày nay chúng đã trở thành hiện thực, thì các dự báo
chính trị được đề cập trong quyển sách đầu – 1984 – lại hoàn toàn sai. Năm
1984 hiện thực đã đến và rồi đã đi, với việc Mỹ vẫn bị mắc kẹt trong cuộc
Chiến tranh lạnh với Liên bang Xô viết. Năm 1984 hiện thực đã thấy mô
hình đầu tiên của máy tính cá nhân do hãng IBM giới thiệu và sự khởi đầu
của cái sẽ trở thành cuộc cách mạng máy tính cá nhân. Như Peter Huber đã
lý luận, máy tính cá nhân, nối mạng Internet, đã thật sự hiện thực hóa màn
hình2 của Orwell. Nhưng, thay vì trở thành một công cụ trung ương tập
quyền và độc tài chuyên quyền, nó đã dẫn đến một hướng trái ngược hẳn:
dân chủ hóa con đường tiếp cận thông tin và phi tập quyền chính trị. Thay
vì có một Big Brother theo dõi từng người một, mọi người đều có thể sử
dụng máy vi tính và mạng Internet để theo dõi Big Brother, tức nhà nước
của mọi quốc gia đều phải hướng đến việc phổ biến nhiều thông tin hơn về
các hoạt động của mình.
Lời tiên tri mang tính chính trị về một địa ngục trần gian khác được đề ra
trong quyển Brave New World vẫn đang còn trong giai đoạn đợi chờ để trở
https://thuviensach.vn
thành hiện thực. Rất nhiều công nghệ đã được Huxley dự kiến trong quyển
sách này, thí dụ như kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm, mang thai hộ,
thuốc tác động tâm thần, và công nghệ di truyền để chế tạo ra trẻ em, hiện
nay hoặc đã có hoặc đang trong giai đoạn hướng tới. Tuy nhiên, cuộc cách
mạng này vẫn còn đang trong giai đoạn khởi đầu; những công bố dồn dập
về những đột phá và thành tựu trong ngành công nghệ y-sinh học, thí dụ
như việc hoàn tất Đề án Bản đồ gene người (Human Genome Project) vào
năm 2000, là tín hiệu báo trước sẽ còn nhiều thay đổi quan trọng hơn nữa.
Trong số những cơn ác mộng do hai quyển sách này gợi ra, những cơn ác
mộng của quyển Brave New World đã tạo ấn tượng mạnh cho tôi vì chúng
tinh vi và mang tính thách thức hơn. Ta dễ dàng thấy điều sai lầm trong thế
giới được mô tả trong quyển 1984: nhân vật đối lập – Winston Smith – kẻ
thù ghét loài chuột cống hơn bất kỳ thứ gì khác, do đó nhân vật Big Brother
đã thiết kế ra một cái lồng trong đó các con chuột cống có thể cắn nát mặt
của Smith khiến anh ta hãi sợ đến mức chấp nhận phản bội người yêu của
mình. Đây là thế giới của chế độ độc tài kinh điển, có được quyền lực nhờ
vào kỹ thuật công nghệ, tuy nhiên, thế giới này không khác biệt là bao so
với những thảm kịch chúng ta đã từng thấy và biết đến trong lịch sử nhân
loại.
Trái lại, trong thế giới mà Brave New World mô tả, cái ác không hiển
nhiên như trong quyển sách kể trên vì không có nhân vật nào bị tổn hại;
thật vậy, đây là một thế giới mà ai cũng có được điều mình muốn có. Như
một nhân vật đã ghi nhận: “Những Kiểm soát viên đã nhận thức rằng sự ép
buộc chẳng có gì hay cả,” và rằng con người nên bị lôi cuốn hơn là bị ép
buộc sống trong một xã hội trật tự. Trong thế giới này, bệnh tật và mâu
thuẫn xã hội đã bị triệt phá, không có tâm trạng trầm cảm, điên cuồng, cô
đơn, hoặc rối loạn cảm xúc; tình dục luôn ở tình trạng tốt và sẵn sàng. Còn
có cả sự hỗ trợ của nhà nước để đảm bảo cho khoảng thời gian giữa sự xuất
hiện của một ham muốn và sự thỏa mãn ham muốn được rút ngắn tới mức
tối đa. Không còn nhân vật nào coi tôn giáo là điều nghiêm túc, không còn
ai sống hướng nội và cũng không có sự khao khát nào không thể thỏa mãn
https://thuviensach.vn
được, gia đình sinh học bị xóa bỏ, không còn ai đọc Shakespeare. Và cũng
chẳng có nhân vật nào tỏ ra tiếc nuối các điều bị xóa bỏ (ngoại trừ nhân vật
đối lập – John Man Di) bởi vì họ sống vui khỏe.
Từ khi quyển sách này được xuất bản, hình như đã có hàng triệu bài luận
văn của học sinh trung học được viết để trả lời câu hỏi: “Có điều gì sai trái
trong thế giới được mô tả trong quyển sách này?” Câu trả lời (trong các bài
luận văn được điểm A) thường như sau: những nhân vật trong Brave New
World có thể sống vui khỏe, nhưng họ đã không còn là con người. Họ
không còn tranh đấu, khao khát, thương yêu, cảm nhận đau khổ, họ không
có những chọn lựa khó khăn về mặt đạo đức, có gia đình, họ cũng không
làm bất kỳ điều gì mà chúng ta
– theo truyền thống – vẫn gắn liền với việc làm người. Họ không còn
những nét đặc trưng tạo dựng nhân phẩm cho chúng ta. Thật vậy, không
còn gì liên quan đến loài người, bởi vì họ được sản sinh bởi các Kiểm soát
viên để trở thành các giai cấp khác nhau như Alpha, Beta, Epsilon, và
Gamma, xa rời nhau y như con người xa rời con thú. Thế giới của họ trở
thành phi tự nhiên theo nghĩa sâu sắc nhất mà ta có thể nghĩ ra, bởi vì bản
chất con người đã bị thay đổi. Nói theo lời của nhà đạo đức sinh học, Leon
Kass, “Khác với con người bị bệnh tật hoặc sự nô lệ làm giảm nhân phẩm,
con người bị mất tính nhân bản theo kiểu Brave New World không khốn
khổ, không biết là mình đã bị mất tính nhân bản, và điều tệ hại hơn nữa, họ
cũng chẳng thèm quan tâm nếu như họ biết điều ấy. Thật vậy, họ là những
người nô lệ sung sướng trong niềm hạnh phúc được làm nô lệ.”3
Tuy nhiên, dù cái kiểu trả lời như thế này thường cũng đã đủ tầm mức để
tạo sự hài lòng cho các thầy cô dạy Anh văn tại một trường trung học kinh
điển, nó vẫn chưa đủ đào sâu nhận thức (theo như Kass tiếp tục nhận định).
Bởi vì ta có thể hỏi tiếp, Điều gì khiến việc làm người là điều quan trọng
theo phương thức truyền thống được định nghĩa bởi Huxley? Dù sao, cái
con người ngày nay cũng đã là sản phẩm của một tiến trình tiến hóa đã tiếp
diễn trong hàng triệu năm, một quy trình có cơ may sẽ tiếp tục tốt đẹp trong
tương lai. Không có một tính cách con người cố định, ngoại trừ một khả
https://thuviensach.vn
năng chung là khả năng chọn con người mình muốn trở thành, là khả năng
sửa đổi mình cho phù hợp với điều mình mong muốn. Vậy, ai là người sẽ
nói được với chúng ta là làm người và có nhân phẩm có nghĩa là gắn chặt
với một hệ thống các phản ứng cảm xúc, vốn là những sản phẩm phụ vô
tình được sản sinh trong lịch sử tiến hóa của chúng ta? Không có những thứ
gọi là gia đình sinh học, là bản chất con người hoặc một con người “bình
thường”, và ngay cả khi cứ cho là chúng có đi nữa, tại sao phải coi đó là
kim chỉ nam cho chuyện đúng sai? Thật ra, Huxley muốn nói với chúng ta
là chúng ta nên tiếp tục cảm nhận nỗi đau, trầm cảm hoặc cô đơn, hoặc khổ
đau vì một căn bệnh nào đó, tất cả là vì đó là những gì con người đã làm
trong phần lớn thời gian loài người hiện hữu. Thay vì lấy các đặc tính này
làm nền tảng cho “nhân phẩm”, tại sao chúng ta không đơn giản chấp nhận
số mạng của chúng ta là những sinh vật tự chỉnh sửa?
Huxley gợi ý tôn giáo là một nguồn định nghĩa cho ý nghĩa của việc làm
người. Trong Brave New World, tôn giáo đã bị xóa bỏ và Ki-tô giáo trở
thành một ký ức xa vời. Truyền thống Ki-tô giáo duy trì ý niệm con người
được sinh ra theo hình ảnh Chúa Trời, đó là nguồn gốc của nhân phẩm.
Như vậy, việc sử dụng công nghệ sinh học để dấn thân vào cái mà một nhà
văn Ki-tô giáo khác – C.S. Lewis – gọi là “sự xóa bỏ con người” sẽ mạo
phạm ý Chúa Trời. Tuy nhiên, tôi không nghĩ là khi ta đọc kỹ Huxley hoặc
Lewis, ta có thể đi đến kết luận là hai tác giả này tin rằng tôn giáo là nền
tảng duy nhất giúp con người có thể hiểu rõ được ý nghĩa thế nào là con
người. Cả hai nhà văn đều gợi ý rằng bản chất tự thân, và đặc biệt là bản
chất con người, đóng một vai trò đặc biệt trong việc định nghĩa cho chúng
ta biết phải trái đúng sai, điều gì là công bằng và điều gì là không công
bằng, điều gì là quan trọng và điều gì là không quan trọng. Do đó phán xét
cuối cùng về “điều gì sai trái” trong Brave New World của Huxley sẽ được
biện minh hoặc bị phủ nhận tùy theo quan điểm của chúng ta về tầm quan
trọng của bản chất con người (nhân bản) khi bản chất này được coi là
nguồn gốc của các giá trị.
https://thuviensach.vn
Mục tiêu của quyển sách này là biện luận rằng Huxley đúng, rằng mối đe
dọa quan trọng nhất do công nghệ hiện đại đặt ra là khả năng khiến bản
chất con người thay đổi và do đó, sẽ dẫn chúng ta đến thời kỳ “hậu nhân
loại” trong lịch sử loài người. Tôi sẽ lập luận rằng điều này là quan trọng,
bởi vì bản chất con người hiện hữu, là một khái niệm có ý nghĩa, và đã
cung cấp một sự ổn định liên tục cho trải nghiệm của chúng ta với tư cách
một con người. Bản chất này, cùng với tôn giáo, định nghĩa những giá trị cơ
bản nhất của chúng ta. Bản chất con người định hình và giới hạn các thể
loại có thể có của các thể chế chính trị, do đó một nền công nghệ có đủ
tiềm lực để có thể tái định hình cái chúng ta đang là sẽ có thể tạo những
hậu quả xấu cho nền dân chủ tự do và cho bản thân của bản chất chính trị.
Có thể, như trường hợp của 1984, rốt cuộc chúng ta sẽ thấy các hậu quả
do ngành công nghệ sinh học đem lại hoàn toàn không gây hại một cách
đáng ngạc nhiên, và cũng thấy rằng chúng ta đã lo lắng đến mất ngủ một
cách vô cớ. Có thể cuối cùng công nghệ này lại tỏ ra không có năng lực
nhiều như ta đang nghĩ bây giờ, hoặc có thể con người sẽ chừng mực và
cẩn trọng trong việc ứng dụng công nghệ này. Nhưng có một điều khiến tôi
không hoàn toàn tin tưởng một cách lạc quan như vậy, đó là ngành công
nghệ sinh học, trái với nhiều tiến bộ khoa học khác, ngành này hiển nhiên
pha trộn một cách tinh tế, trong cùng một gói, các điểm lợi và các điểm hại.
Ngay từ ban đầu, vũ khí nguyên tử và năng lượng nguyên tử được nhìn
nhận là nguy hiểm, và do đó là những mục tiêu được kiểm soát chặt chẽ
ngay từ thời điểm Kế hoạch Manhattan sản xuất quả bom nguyên tử đầu
tiên vào năm 1945. Các nhà quan sát, như Bill Joy, đã lo lắng về công nghệ
nano – coi đó là những cỗ máy có khả năng tự sao chép ở mức độ phân tử
để có thể sản sinh một cách không thể kiểm soát được và do đó có thể hủy
diệt những người sáng tạo ra chúng.4 Tuy nhiên, những mối đe dọa theo
kiểu này thật ra là những mối đe dọa dễ đối phó nhất bởi vì chúng quá hiển
nhiên. Nếu như bạn thấy mình dễ dàng có nguy cơ bị một cỗ máy do chính
bạn sáng chế giết chết, dĩ nhiên bạn sẽ nghĩ ra những giải pháp bảo vệ
https://thuviensach.vn
mình. Và như vậy, cho đến giờ chúng ta đã có thành tích kiểm soát một
cách hợp lý các máy công nghệ nano này.
Tương tự, có thể có những sản phẩm công nghệ sinh học cho thấy rõ
những hiểm họa chúng có thể gây ra cho loài người – thí dụ như những siêu
bọ, những virus mới, hoặc thực phẩm biến đổi gene gây ra những phản ứng
ngộ độc. Cũng giống như vũ khí nguyên tử hoặc công nghệ nano, theo một
cách nào đó, những sản phẩm này dễ dàng giải quyết nhất bởi vì một khi
chúng ta đã nhận thức được chúng có thể gây nguy hiểm, chúng ta sẽ thẳng
thừng coi chúng là mối đe dọa và có cách để trị chúng. Mặt khác, các mối
đe dọa điển hình bắt nguồn từ công nghệ sinh học là những mối đe dọa
được Huxley nắm bắt rất kỹ, và được tóm tắt qua tựa đề một bài báo của
nhà văn Tom Wolfe, “Xin lỗi, nhưng đành phải nói là Linh hồn của bạn vừa
mới chết đi.”5 Trong nhiều trường hợp, công nghệ y khoa đã đưa ra cho
chúng ta những cuộc mặc cả với quỷ dữ: giúp kéo dài thời gian sống nhưng
trong tình trạng khả năng trí tuệ bị giảm sút; không bị trầm cảm nhưng mất
tư duy sáng tạo hoặc mất tinh thần; những liệu pháp khiến chúng ta không
còn sáng suốt nhận biết được ranh giới giữa những điều chúng ta làm được
do chính khả năng chúng ta và những điều chúng ta làm được nhờ vào các
liều hóa chất khác nhau tác dụng lên não chúng ta.
Chúng ta thử xem ba kịch bản sau, cả ba đều có khả năng xảy ra trong
một hoặc hai thế hệ sắp tới rõ rệt.
Khả năng đầu tiên liên quan đến các dược phẩm mới. Từ những kết quả
có được do tiến bộ trong ngành dược học thần kinh, các nhà tâm lý học đã
khám phá ra rằng tâm tính con người dễ nhào nặn hơn ta nghĩ. Các thuốc
tác động tâm thần, như Prozac và Ritalin, có thể ảnh hưởng lên tính cách
như cải thiện lòng tự hào và khả năng tập trung tinh thần, nhưng chúng
cũng có thể gây ra các phản ứng phụ và do đó chúng bị hạn chế chỉ định
dùng và chỉ được dùng khi có nhu cầu trị liệu rõ ràng. Tuy nhiên, trong
tương lai, khi kiến thức về bản đồ gene cho phép các công ty dược điều chế
dược phẩm của họ một cách thật đặc hiệu cho các thể loại gene khác nhau,
tương ứng với từng cá nhân bệnh nhân và nhờ đó sẽ giảm thiểu đến mức tối
https://thuviensach.vn
đa các tác dụng phụ. Những người ù lì có thể trở nên năng động hơn; những
người hướng nội sẽ hướng ngoại hơn; bạn có thể có tính cách này vào ngày
thứ tư và tính cách khác vào cuối tuần. Sẽ không còn lý do nào để bất kỳ ai
có quyền cảm thấy trầm cảm hoặc buồn phiền; ngay cả một người vui vẻ
một cách “bình thường” cũng sẽ khiến mình vui hơn mà không sợ bị nghiện
thuốc, bị khó chịu sau chầu nhậu, hoặc tổn thương dài lâu về não bộ.
Trong kịch bản thứ hai, tiến bộ trong ngành nghiên cứu về tế bào gốc cho
phép các nhà khoa học nghĩ đến việc tái sinh mọi thể loại mô trong cơ thể,
đến mức tuổi thọ có thể được đẩy lên đến trên 100 tuổi. Nếu như bạn cần
có một trái tim hoặc một lá gan mới, chỉ việc cấy nó trong lồng ngực một
con heo hoặc một con bò (ND chú thích: để rồi sau đó đem ghép nó vào
người bạn); não bộ bị tổn thương do bệnh Alzheimer hoặc tai biến có thể
được hồi phục. Vấn đề duy nhất là có nhiều mặt tinh tế và một số mặt
không-mấy-tinh tế trong tiến trình lão hóa con người khiến ngành công
nghệ sinh học chưa nghĩ ra cách giải quyết được hoàn toàn: thí dụ con
người có trí tuệ xơ cứng dần và trở nên bảo thủ về mặt tư duy theo với tuổi
già, và dù cho họ có cố gắng, họ không thể tiếp tục làm cho mình quyến rũ
trong mắt người phối ngẫu và ngược lại cũng không còn thấy người phối
ngẫu quyến rũ nữa, và họ khao khát có bạn tình ở độ tuổi trẻ trung còn sinh
nở được. Điều tệ nhất là họ không chịu tách ra khỏi cuộc sống, không
những của con cái họ, mà còn của các cháu chắt họ nữa. Mặt khác, sẽ có
quá ít người sinh con hoặc có bất kỳ liên hệ nào đến quy trình sinh nở
truyền thống, do đó việc sinh sản truyền thống chẳng còn mấy ý nghĩa.
Trong kịch bản thứ ba, các phôi thai khỏe mạnh được kiểm tra đều đặn
trước khi cấy để tối ưu hóa khả năng con người có con thuộc thể loại mình
muốn. Bạn có thể tăng khả năng đoán được nền tảng xã hội của một người
trẻ tuổi nào đó dựa vào dáng dấp và trí thông minh của người ấy; nếu như
có ai đó không đạt được chuẩn mực do xã hội đề ra, người ấy sẽ có khuynh
hướng đổ lỗi do cha mẹ mình đã chọn gene xấu thay vì nhận đó là lỗi của
chính mình. Vì mục đích nghiên cứu và để có thể sản xuất ra các sản phẩm
y khoa mới, gene của người đã được chuyển sang các loài vật và ngay cả
https://thuviensach.vn
các loài cây cỏ; và gene của loài thú đã được cấy thêm vào một số phôi thai
của con người để giúp con người gia tăng sức chịu đựng của cơ thể hoặc
sức đề kháng với bệnh tật. Các nhà khoa học không dám nghĩ đến việc sản
xuất ra một quái vật hoàn toàn huyền thoại – nửa người nửa khỉ – mặc dù
họ có khả năng làm việc đó; tuy nhiên những người trẻ tuổi bắt đầu cho
rằng những bạn cùng lớp yếu kém hơn họ thật sự không hoàn toàn là con
người về mặt gene. Bởi vì, thật sự, chính những người trẻ tuổi này không
có tính người.
Xin lỗi, nhưng đành phải nói linh hồn bạn vừa mới chết đi...
Về cuối đời mình, Thomas Jefferson đã viết, “Tầm trải rộng bao quát của
ánh sáng khoa học đã mở ra trước mắt mọi người một sự thật có thể sờ nắn
được này, đó là không phải đa số con người bị sinh ra với cái yên ngựa đeo
trên lưng họ, cũng như không phải một thiểu số con người được ưu tiên
sinh ra với đôi ủng có đinh thúc ngựa sẵn sàng cưỡi lên lưng của đa số kia
một cách hợp pháp, nhờ ơn Chúa Trời định.”6 Sự bình đẳng về mặt chính
trị này, đã được thiêng liêng hóa bởi bản Tuyên ngôn Độc lập, dựa trên thực
tế đã được chứng minh về sự bình đẳng tự nhiên có của con người. Chúng
ta khác nhau rất nhiều về mặt cá nhân cũng như văn hóa, nhưng chúng ta
cùng chia sẻ nhân tính cho phép mỗi con người đều có tiềm năng giao tiếp
và thiết lập một quan hệ có đạo đức với mọi con người khác trên hành tinh
này. Câu hỏi tận cùng nhất được công nghệ sinh học khơi gợi ra là: Cái gì
sẽ xảy đến cho quyền con người về mặt chính trị một khi chúng ta, thật sự,
có khả năng sinh sản những người phải đeo yên ngựa trên lưng và những
người có ủng và đinh thúc ngựa để cưỡi lên lưng những người kia.
MỘT GIẢI PHÁP ĐƠN GIẢN
Chúng ta phải làm gì để ứng phó với nền công nghệ sinh học mà trong
tương lai sẽ trộn lẫn các điểm lợi đầy tiềm năng với các điểm hại hoặc
mang tính thể chất và thấy rõ, hoặc mang tính tinh thần và khó thấy? Câu
trả lời thật hiển nhiên: Chúng ta nên sử dụng quyền lực pháp trị của nhà
nước để quản lý nó. Và nếu như việc quản lý này tỏ ra vượt ngoài quyền
https://thuviensach.vn
lực của bất kỳ một nhà nước đơn lẻ nào, thì nó cần được thực hiện ở tầm
mức quốc tế. Vào lúc này, chúng ta cần bắt đầu suy nghĩ cụ thể để tìm cách
phân biệt được việc sử dụng công nghệ sinh học đúng và sai, và củng cố
một cách hiệu quả các quy chế ở tầm mức quốc gia và quốc tế.
Tuy nhiên, câu trả lời hiển nhiên này lại không tỏ ra hiển nhiên đối với
nhiều người tham gia vào cuộc tranh luận hiện tại về ngành công nghệ sinh
học. Cuộc tranh luận vẫn còn đang đắm chìm ở tầm mức tương đối trừu
tượng liên quan đến khía cạnh đạo đức của các quy trình, thí dụ như sinh
sản vô tính hoặc nghiên cứu tế bào gốc, và phân thành hai trường phái:
trường phái mong muốn cho phép tiến hành mọi điều và trường phái mong
muốn cấm đoán mọi lĩnh vực nghiên cứu và thực hành. Một cuộc tranh
luận mở rộng dĩ nhiên quan trọng, nhưng các sự kiện đang chuyển biến quá
nhanh khiến chúng ta cần nhanh chóng có hướng dẫn cụ thể hơn về đường
hướng phát triển trong tương lai để ngành công nghệ này tiếp tục phục vụ
con người thay vì trở thành làm chủ con người. Bởi vì dường như chúng ta
không thể cho phép làm mọi chuyện nhưng cũng không thể cấm đoán
những nghiên cứu có tiềm năng, nên chúng ta cần tìm ra một điểm dung
hòa.
Tạo dựng các thể chế quản lý mới là một việc không thể coi nhẹ khi sự
thiếu hiệu quả vây quanh mọi nỗ lực liên quan đến quản lý. Trong ba thập
niên vừa qua, đã có một phong trào toàn cầu về bãi bỏ quản lý nhiều lĩnh
vực của mọi nền kinh tế quốc gia, từ ngành hàng không đến ngành bưu
chính viễn thông, và ngày càng mở rộng hơn để tiến đến giảm thiểu tầm
mức và lĩnh vực quản lý của nhà nước. Kết quả của việc này là nền kinh tế
toàn cầu trỗi dậy quá cả là một cỗ máy sản xuất sự giàu có và cải tiến công
nghệ hiệu quả.
Nhưng điều quan trọng là ta cần phải phân biệt được rằng điều thành
công trong một lĩnh vực kinh tế này không có nghĩa là nó sẽ thành công
trong một lĩnh vực kinh tế khác. Thí dụ ngành công nghệ thông tin đã sản
xuất ra nhiều điều lợi cho xã hội và tương đối ít điều hại, và do đó tương
đối ít bị nhà nước kiểm soát. Nhưng trái lại, các chất liệu nguyên tử và các
https://thuviensach.vn
chất thải độc hại phải tuân thủ theo các quy định chặt chẽ ở tầm mức quốc
gia và quốc tế vì việc kinh doanh chúng không theo đúng quy định rõ ràng
sẽ gây nguy hiểm.
Một trong những vấn đề lớn nhất trong việc quản lý ngành công nghệ
sinh học con người là quan điểm phổ biến cho rằng không thể nào dừng sự
phát triển của công nghệ. Nếu như nước Mỹ hoặc bất kỳ quốc gia nào khác
cố gắng cấm sinh sản vô tính hoặc công nghệ di truyền dòng mầm (germline genetic engineering) hoặc bất kỳ một quy trình công nghệ sinh học nào
khác, những người muốn thực hiện những quy trình này chỉ việc di dân đến
một quốc gia có thể chế luật pháp cho phép họ thực hiện. Toàn cầu hóa và
tình trạng cạnh tranh quốc tế trong nghiên cứu y sinh học đảm bảo quốc gia
nào rào giậu mình bằng cách đề ra các giới hạn về mặt y đức với các cộng
đồng khoa học của họ hoặc với công nghệ sinh học sẽ bị trừng phạt.
Ý tưởng cho rằng không thể nào dừng hoặc kiểm soát tiến bộ công nghệ
là một ý tưởng sai lầm, các lý do lập luận cho nhận định này sẽ được đưa ra
một cách đầy đủ hơn trong Chương 10 của quyển sách. Thật vậy, chúng ta
kiểm soát được mọi thể loại công nghệ và nhiều thể loại nghiên cứu: con
người không được tự do thực nghiệm để phát triển các vũ khí sinh học mới
cũng như không được tự do thực nghiệm trên bất kỳ người nào mà không
có sự đồng ý của người ấy. Việc có một số cá nhân hoặc tổ chức vi phạm
các quy định này, hoặc có các quốc gia hầu như không có hoặc buông lỏng
các quy định này, không biện minh cho việc không đặt ra các quy định.
Cũng như việc có kẻ cắp và kẻ giết người không có nghĩa là luật pháp cho
phép ăn cắp và giết người.
Bằng mọi giá, chúng ta cần tránh thái độ chủ bại liên quan đến công
nghệ, tránh cho rằng chúng ta không thể làm gì để dừng lại hoặc định hình
các phát triển mà chúng ta không muốn có, tránh cho rằng chúng ta không
cần cố tìm cách dừng chúng lại. Việc thiết lập một hệ thống quản lý cho
phép các xã hội kiểm soát được ngành công nghệ sinh học sẽ không dễ thực
hiện: nó đòi hỏi các nhà lập pháp trong các quốc gia trên toàn thế giới phải
bước lên bục phát biểu và đưa ra các quyết định khó khăn liên quan đến
https://thuviensach.vn
những vấn đề khoa học phức tạp. Hình thức và thể loại các thể chế được
thiết kế để thiết lập các quy định mới là một câu hỏi còn bỏ ngỏ; thiết kế
chúng sao cho chúng chỉ hạn chế ở mức tối thiểu các phát triển tích cực
trong khi vẫn cho chúng năng lực cưỡng chế hiệu quả là cả một thách thức.
Và còn thách thức hơn nữa là việc sáng tạo ra các quy định chung ở tầm
mức quốc tế, củng cố một sự đồng thuận giữa các quốc gia có nhữn...
 





